ĐỀ MỤC 4: BÍ TÍCH SÁM HỐI (959 - 997)

ĐỀ MỤC 4: BÍ TÍCH SÁM HỐI (Điều 959 - 997)

Điều 959

Trong bí tích sám hối, các tín hữu nào thú tội với mình với một thừa tác viên hợp pháp, ăn năn về những tội ấy và quyết tâm sửa mình, thì nhờ việc xá giải do chính thừa tác viên ấy ban, họ được Thiên Chúa tha thứ các tội các tội đã phạm sau khi chịu phép rửa tội, và đồng thời được hoà giải với Giáo Hội mà họ đã làm tổn thương khi phạm tội.

CHUƠNG I: CỬ HÀNH BÍ TÍCH SÁM HỐI

Điều 960

Việc xưng tội riêng và xưng tội đầy đủ cùng với việc xá giải tạo thành phương cách thông thường duy nhất, nhờ đó một tín hữu ý thức mình có tội trọng được hoà giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội; chỉ có việc bất lực thể lýhay luân lý mới miễn chuẩn việc xưng tội như trên, trong ttrường hợp này, việc hoà giải cũng có thể được thực hiện bằng những cách khác.

Điều 961

#1. Không thể ban ơn xá giải chung cho nhiều hối nhân cùng một lúc, nếu mỗi cá nhân không thú tội trước,trừ:

1 Trường hợp nguy tử sắp xảy ra không đủ thời giờ cho một hay nhiều tư tế nghe từng hối nhân xưng tội;

2 trường hợp có nhu cầu nghiêm trọng, nghĩa là khi có đông hối nhân mà không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội đúng cách trong một thời gian thích hợp, đến nỗi các hối nhân không được lãnh ơn cũa bí tích hoặc không được rước lễ trong thời gian lâu dài mà không do lỗi của họ, tuy nhiên, không được coi là có nhu cầu đầy đủ, khi không có sẵn cha giải tội, chỉ vì có đông hối nhân như có thể xảy ra trong một ngày lễ lới hoặc một cuộc hành hương lớn nào đó.

#2. Việc nhận định xem những điều kiện cần thiết chiếu theo quy tắc của #1,2 có hay không là thuộc về Giám Mục giáo phận; ngài có thể xác định những trường hợp có nhu cầu như thế, dựa vào những tiêu chuẩn đã đuợc thỏa thuận chung với các thành viên khác của Hội Đồng Giám Mục.

Điều 962

#1. Để hưởng nhờ hữu hiệu ơn xá giải bí tích được ban cùng một lúc cho nhiều người, người kitô hữu không phải đuợc chuẩn bị đầy đủ, mà đồng thời phải quyết tâm là sẽ đi xưng tội riêng vào thời gian thích hợp, về các tội trọng mà hiện tại họ không thể xứng thú như vậy được.

#2. Trong mức độ có thể, ngay vào dịp lãnh nhận một ơn xá giải chung, các kitô hữu phải đựoc dạy cho biết những điều kiện buộc phải có chiếu theo quy tắc của #1, và kể cả trong trường hợp nguy tử, nếu còn thời giờ, thì phải khuyên bảo trứơc khi xá tội chung, để mỗi người lo giục lòng ăn năn sám hối.

Điều 963

Miễn là vẫn giữ nguyên nghĩa vụ được nói đến ở điều 989, nguời nào đuợc tha tội trọng nhờ một ơn xá giải chung, thì phải đi xưng tội riêng sớm hết sức khi có dịp, trứơc khi lãnh nhận ơn xá tội chung một lần khác, trừ khi có một lý do chính đáng can thiệp vào.

Điều 964

#1. Nơi thừơng ban bí tích Sám Hối là nhà thờ hay nhà nguyện.

#2. Về tòa giải tội thì Hội đồng Giám Mục phải ấn định những quy tắc, nhưng phải dự liệu đặt các toà giải tội ở một nơi dễ thấy, các tòa này phải có một chấn song ngăn cách hối nhân với cha giải tội, và các tín hữu nào muốn thì có thể tự do đến tòa giải tội.

#3. Không được giải tội ở ngoài tòa giải tội, trừ khi  có một lý do chính đáng.

CHƯƠNG II: THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH SÁM HỐI

Điều 966

#1. Để giải tội thành sự, ngoài quyền thánh chức, thừa tác viên buộc phải có năng quyền thi hành quyền thánh chức ấy đối với các tín hữu mà ngài ban ơn xá giải.

#2. Tư tế có năng quyền này, hoặc chiếu theo chính luật, hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền ban chiếu theo quy tắc của điều 969.

Điều 967

#1. Ngoài Đức Giáo Hoàng ra, các vị Hồng Y đương nhiên có năng quyền giải tội  cho các tín hữu ở khắp nơi trên thế giới cũng vậy, các Giám Mục thi hành  năng quyền ấy cách hợp thứcở khắp nhọi, trừ khi Giám Mục giáo phận từ chối trong một trường hợp đặc biệt.

#2. Những vị có năng quyền giải tội thường xuyên chiếu theo chức vụ hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương nơi nhập tịch  hoặc nơi mình cư ngụ ban,có thể thi hành năng quyền ấy  ở khắp nơi, trừ khi Đấng BẢn Quyền địa phương từ chối điều đó trong một trường hợp đặc bệt, miễn là  vẫn giữ nguyên những quy định của điều 974##2/và 3.

#3. Những vị nào có năng quyền giải tội chiếu theo chức vụ hoặc do Bề Trên có thẩm quyền ban chiếu theo  quy tắc của điều 968#3 và 969 #2và  thì đương nhiên có quyền ấy ở khắp nơi  đối với các thành viên của hội dòng hay của tu đoàn mình, cũng như đối với những người  khác ngày đêm cư ngụ tại một trong các nhà của hội dòng hay tu đoàn ; những vị  ấy sử dụng hợp thức năng quyền này, trừ khi  một Bề Trên cấp cao từ chối điều đó đối với những người thuộc quyền ngài, trong một trường hợp đặc biệt.

Điều 968

#1. Chiếu theo chức vụ, Đấng Bản Quyền địa phương, vị kinh sĩ xá giải, cũng như cha sở và nhũng người thay quyền cha sở đều có năng quyền giải tội, và mỗi người trong quyền hạn của mình.

#2. Chiếu theo chức vụ Bề Trên các hội dòng giáo sĩ thuộc kuật giáo hoàng  có quyền hành pháp trong việc lãnh đạo  chiếu theo quy tắc của hiến pháp, thì có năng quyền giải tội cho các người thuộc quyền mình và cho những người khác ngày đêm cư ngụ trong nhà mình, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 630#4.

Điều 969

#1. Chỉ Đấng Bản Quyền địa phương có thẩm quyền ban cho bât cứ linh mục nào năng quyền giải tội cho bất cứ tín hữu nào, nhưng những linh mục là thành viên của một hội dòng không được dung năng quyền ấy khi không có' phép ít là được suy đoán của Bề Trên mình.

#2. Bề Trên của hội dòng hoặc của một tu đoàn tông đồ được nói đến ở điều 968 #2, có thẩm quyền ban cho bất cứ linh mục nào năng quyền giải tội cho các người thuộc quyền mình và các người khác ngày đêm cư ngụ trong nhà mình.

Điều 970

Chỉ được ban năng quyền giải tội cho những linh mục nào đã được công nhận là có khả năng xứng hợp qua một cuộc khảo hạch hoặc khi đã biết rõ khả năng của họ bằng cách khác.

Điều 971

Đấng Ban Quyền địa phương không được ban năng quyền giải tội thường xuyên cho một linh mục, dù linh mục ấy có cư sở hay bán cơ sỏ thuộc quyền hạn mình, nếu trước đó không tham khảo ý kiến Đấng Bản Quyền của linh mục ấy, trong mức độ có thể.

Điều 972

Nhà chức trách có thẩm quyền được nói đến ở đìều 969 có thể ban năng quyền giải tội cho một thời gian hoặc vô hạn hặc hữu hạn.

Điều 973

Năng quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng văn bản.

Điều 974

#1. Đấng Bản Quyền địa phương cũng như Bề Trên có thẩm quyên không được thu hồi năng quyền giải tội thường xuyên đã được ban trừ khi có lý do quan trọng.

#2. Khi năng quyền giải tội bị Đấng Bản Quyền địa phương đã ban năng quyền được nói đến ở điều 967#2 thu hồi, thì linh mục mất năng quyền ấy ở bất cứ nơi nào; còn khi năng quyền giải tội bị mộ Đấng Bản Quyền địa phương nào khác thu hồi, thì linh mục chỉ mất năng quyền ấy trong địa hạt của Đấng Bản Quyền đã thu hồi năng quyền.

#3. Bất cứ Đấng Bản Quyền địa phương nào đã thu hồi năng quyền giải tội của một linh mục, thì phải báo cho Đấng Bản Quyền riêng tại nơi linh mục ấy đã nhập tịch, nhưng nếu là thành viên của một hội dòng, thì phải báo cho Bề Trên có thẩm quyền của đương sự.

#4. Khi bị Bề Trên cấp cao của mình thu hồi năng quyền giải tội, thì linh mục mất năng quyền ấy ở khắp nơi đối với các thành viên của hội dòng ; nhưng khi một Bề Trên có thẩm quyền khác thu hồi năng quyền giải tội thì linh mục chỉ mất năng quyền ấy đối vo81i các hành viên thuộc quyền hạn của Bề Trên đó.

Điều 975

Ngoài trường hợp bị thu hồi, năng quyền được nói đến ở điều 967#2 chấm dứt do việc mất giáo vụ, do xuất tịch và còn do mất cư sở.

Điều 976

Cho dù không có năng quyền giải tội, bất cứ tư tế nào cũng giải hết mọi vạ và mọi tội cách thành sự và hợp thức cho mỗi hối nhân lâm cơn nguy tử, mặc dầu có sự hiện diện của một tư tế được chuẩn nhận.

Điều 977

Giải tội phạm điều răn thứ sáu cho người đồng lõa thì bất thành, trừ trường hợp nguy tử.

Điều 978

#1. Khi giải tội, tư tế phải nhớ rằng  nhiệm vụ của mình vừa là thẩm phán vừa là lương y, và đồng thời mình đã được Thiên Chúa đặt làm thừa tác viên của công lý và lòng nhân hậu của Chúa, để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

#2. Với tư cách là thừa tác viên của Giáo Hội, khi ban bí tích, cha giải tội phải trung thành theo sát giáo huấn của huấn quyền và những quy tắc do nhà chức trách có thẩm quyền thiết lập.

Điều 979

Khi đặt những câu hỏi, tư tế phải tiến hành  cách khôn ngoan và kín đáo, phải lưu ý đến địa vị  và tuổi tác của hối nhâ và tránh đừng hỏi tên người đồng lõa.

Điều 980

Nếu cha giải tội không hồ nghi về sự chuẩn bị của hối nhân, và nếu hối nhân xin xưng tội, thì ngài không được từ chối và cũng không được hoãn ban ơn xá giải.

Điều 981

Cha giải tội phải ra việc đền tội hữu ích và thích hợp cho hối nhân,, tùy theo bản chất và số tội, nhưng phải lưu ý đến hoàn cảnh của hối nhân; chính hối nhân buộc phải tự mình thực hiện việc đền tội.

Điều 982

Người nào thú nhận là mình đã cáo gian với nhà chức trách Giáo Hội một cha giải tội vô tội đã dụ dỗ phạm tội nghịch điều răn thứ sáu của Thập Giới, thì chỉ được xá giải nếu trước đó đương sự đã chính thức rút lại lời cáo gian ấy và sẵn lòng đền bù những thiệt hại đó nếu có.

Điều 983

#1. Ấn tín bí tích đều là bất khả xâm phạm, vì thế, tuyệt đối cấm cha giải tội  không được tiết lôï hối nhân  bằng lời nói hay bằng cáh nào khá, và vì bất cứ lý do gì.

#2. Thông dịch viên, nếu có, và tất cả mọi người đã biết được tội bằng bất cứ cách nào, do việc thú tội, cũng đều buộc phải giữ bí mật.

Điều 984

#1. Tuyệt đối cấm cha giải tội, dùng những kiến thức  biết được trong lúc giải tội đểlàm hại hối nhân, dù không có nguy cơ tiết lộ nào.

#2. Người cầm quyền không thể dùng những kiến thức biết được bất cứ lúc nào do việc giải tội, để lãnh đạo ở tòa ngoài, bằng bất cứ cách nào.

Điều 985

Vị giáo tập và cộng sự viên của mình, giám đốc của chủng viện hoặc của một cơ sở giáo dục khác, không được giải tội cho học sinh cư ngụ trong nhà mình, trừ khi những học sinh ấy tự nguyện xin điều đó trong những trường hợp đặc biệt.

Điều 986

#1. Những vị có nhiệm vụ coi socù linh hồn buộc phải  liệu sao cho nhũng tín hữu đã được trao cho mìnhđược xưng tội, mỗi khi họ xin cách hợp lý, phải tạo cho họ đến xưng tội riêng bằng cách ấn định ngài giờ thuận tiện cho họ.

#2. Trong trường hợp có nhu cầu khẩn cấp, bất cứ cha giải tội nào, và trong trường hợp nguy tử, thì bất cứ tư tế nào cũng buộc phải giải tội cho Kiô hữu.

CHƯƠNG 3: HỐI NHÂN

Điều 987

Để hưởng nhờ phương được cứu độ của bí tích Sám Hối, người Kitô hữu phải được chuẩn bị thế nào để trở về với Thiên Chúa bằng cách từ ỏ các tội đã phạm và quyết tâm sửa mình.

Điều 988

#1. Sau khi đã xét mình kỹ lưỡng và ý thức được tội của mình,người Kitô hữu buộc phải xưng các loại tội trọng và số tội trọng đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và chưa được quyền tháo gỡ của Giáo Hội tha trực tiếp và họ chưa xưng trong lần xưng tội riêng.

#2. Khuyên các Kitô hữu cũng xưng cả tội nhẹ nữa.

Điều 989

Mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải xưng các tội trọng của mình một cách trung thực, một năm ít là một lần.

Điều 990

Không cấm xưng tội qua một thông dịch viên, nhưng phải tránh những lạm dụng và gương xấu, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 983#2.

Điều 991

Mọi Kitô hữu có trọn quyền xưng tội với cha giải tội nào đã được chuẩn nhận cách hợp thức mà mình thích, mặc dầu vị ấy thuộc một lễ điển khác.

CHƯƠNG 4: ÂN XÁ

Điều 992

Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải chịu vì các tội đã được xóa bỏ; Kitô hữu nào đã được chuẩn bị đầy đủ và đã thực hiện một số điều kiện đã được ấn định, thì được hưởng ơn tha thứ này nhờ sự trợ giúp của Giáo Hội; với tư cách là thừa tác viên ơn cứu chuộc. Giáo Hội dùng quyền mình để phân phát và áp dụng kho tàng đền tội của Đức Kitô và các thánh.

Điều 993

Ân xá gồm có tiểu xá hoặc toàn xá tha một phần hay tha tất cả hình phạt tạm thời phải chịu vì tội.

Điều 994

Bất cứ tín hữu nào cũng có thể hưởng ơn tiểu xá hoặc ơn toàn xá, hoặc cho chính mình hoặc, hoặc cho nhũng người đã qua đời.

Điều 995

#1. Ngoài quyền bính tối cao của Giáo Hội, chỉ những vị nào được luật công nhận là có quyền, hoặc được Đức Giáo Hoàng Rôma  ban quyền, mới có thể ban phát các ân xá.

#2. Không một quyền bính nào dưới quyền Đức Giáo Hoàng Rôma có thể trao cho  người khác quyền ban ân xá, trừ khi được Tông Tòa minh nhiên ban cho quyền ấy.

Điều 996

#1. Để có thể hưởng ân xá, đương sự phải là người được Rửa Tội, không bị vạ tuyệt thông và sống trong tình trạng ân sủng, ít là vào lúc kết thúc các công việc đã được quy định.

#2.Tuy nhiên,để có thể ân xá, đương nhiên phải có ý hướng ít là tổng quát muốn thủ đắc các ân xá và phải chu toàn những việc buộc phải làm trong thời gian đã được ấn định và với cách thức đã được quy định, theo tinh thần của việc ban ân xá.

Điều 997

Về việc ban và hưởng ân xá, còn phải giữ các quy địnhkhác trong luật riêng của Giáo Hội.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây