ĐỀ MỤC 7:  BÍ TÍCH HÔN NHÂN (1055 - 1165)

ĐỀ MỤC 7:  BÍ TÍCH HÔN NHÂN (Điều 1055 - 1165)

Điều 1055

#1. Do giao ước hôn nhân, môt người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa Tội lên hàn bí tích.

#2. Vì thế, giữa hai người đã được Rửa Tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải  là bí tích.

Điều 1056

 Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và sự bất khả phân ly, những đặc tính này có một sự bền vững đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì có tính cách bí tich.

Điều 1057

#1. Chính sự ưng thuận của đôi bên được biểu lô cách hợp thức giữa những người có năng cách về mặt pháp lý làm nên hôn nhân và không một quyền lực nào của loài người có thể thay thế được sự ưng thuận ấy.

 #2. Sự ưng thuận hôn nhân là một hành vi của ý chí, nhờ đó môt người nam và mộ người nữ hiến thân cho nhau và chấp nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi để tạo thành hôn nhân.

Điều 1058

Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn.

Điều 1059

Hôn nhân của người Công giáo, cho dù chỉ có một bên là Công giáo, bị chi phối không những bởi luật Thiên Chứa mà còn bởi luật Giáo Hội nữa, miễn là vẫn tôn trọng thẩm uyền của quyền bính dân sự đối với những hiệu quả thuần túy dân sự của chính hôn nhân này.

Điều 1060

Hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân vẫn được coi là thành sự cho đến khi có chứng cớ ngược lại.

Điều  1061

#1. Hôn nhân thành sự giữa hai người đã được Rửa Tội mới chỉ là hôn nhân thành nhận, nếu  chưa có sự hoà hợp ; hôn nhân được gọi là  thành nhận và hoà hợp, nếu hai người phối ngẫu đã được thực hiện  hành vi vợ chồng với nhau theo cách thức hợp với nhân tính, mà hành vi này từ nó có khả năng dẫn tới sinh sản là mục tiêu tự nhiên  của hôn nhân và  do hành vi đó mà hai vợ chồng trở nên một xương một thịt.

#2. Sau khi đã cử  hành hôn nhân, nếu hai người phối ngẫu đã sống chung với nhau, thì hôn nhân được suy đoán là đã hoà hợp  cho đến khi có chứng cớ ngược lại.

#3. Hôn nhân bất thành được gọi là hôn nhân giả định, nếu ít là một trong haingười phối ngẫu đã cử hành hôn nhân  vì ngay tình, cho đến khi cả hai người  biết chắc là hôn nhân ấy bất thành.

Điều 1062

#1. Lời hứa đơn phương hoặc song phương, gọi là đính hôn, được chi  phối bởi luật riêng do Hội Đồng Giám Mục ấn định, dựa theo phong tục và luật dân sự, nếu có.

#2. Lời hứa hôn không phải phát  sinh  tố quyền đòi phải cử hành hôn nhân, nhưng phát sinh tố quyền đòi  đền bù thiệt hại theo mức độ đã gây ra.

 

CHƯƠNG 1: MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ NHỮNG VIỆ PHẢI LÀM
 TRƯỚC KHI HÔN NHÂN ĐƯỢC CỬ HÀNH

Điều 1063

Các vị chủ chăn các linh hồn buộc phải liệu sao  cho cộng đoàn Giáo Hội của mình biết trợ giúp  các Kitô hữu, để bậc hôn nhân đuợc bảo tồn trong tinh thần Kitô giáo và tiến tới trong sự hoàn thiện. Việc trợ giúp này phải được thục hiện nhất là:

10bằng việc giảng thuyết bằng việc huấn giáo thích hợp cho nhi đồng, thanh niên và người thành niên, và cùng bằng việc sủ dụng  các phương tịên truyền thông xã hội nhờ đó  cácKitô hữu đựoc giáo huấn về ý nghĩa hôn nhân Kitô giáo và về vai trò của người phối ngẫu ũng như của các bậ cha mẹ Kitô giáo

20 bằng sự chuẩn bị cá nhân để kết hôn, nhờ đó hai vợ chồng  được sẳn sàng hướng đến sự thánh thiện cũng như  những bổn phận của bậc sống mới.

30 bằng iệc cử hành hôn nhân cách hũu hiệu theo phụng vụ, để minh hoạ rằng hai người phối  ngẫu và biểu hiện của  của mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, và họ tham dự vào mầu nhiệm  ấy.

 40 bằng việc giúp đỡ các đôi vợ chồng, để khi trung thành  gìn giử và bảo vệ  giao ứoc hôn nhân họ biết sống cuộc đời đôi bạn ngày càng thánh thiện và hoàn hảo hơn.

Điều 1064

Đấng Bản Quyền  địa phương  liệu sao đêåtổ chức chu đáo việc trợ giúp ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của các người nam  cũng như nữ giàu kinh nghiệm và có chuyên môn, nếu thấy thuận tiện.

Điều 1065

# 1. Người công giáo nào chưa lãnh bí tích Thêm Sức, thì phải lãnh bí tích ấy trước khi kết hôn, nếu điều đó có thể thực hiện được mà không có bất tiện nghiêm trọng.

# 2. Để lãnh nhận bí tích hôn nhân cách hữu hiệu, tha thiết khuyên nhủ đôi bạn nên lãnh nhận bí tích Sám Hối và bí tích Thánh Thể.

Điều 1066

Trước khi cử hành bí tích Hôn Nhân phải biết chác không có gì cản trở việc cử hành bí tích thành sự và hợp thức

Điều 1067

 Hội Đồng Giám mục phải ấn định những quy tắc về việc khảo hạch các đôi bạn, cũng như về việc rao hôn phối và về những phương thế thích hợp khácđể thực hiện những cuộc điều tra, những việc đó là cần thiết trước khi cử hành hôn nhân; một khi những quy tắc ấy được tuân giữ cẩn thận, cha sở có thể tiến hành việc chứng hôn.

Điều 1068

Trong cơn nguy tử, nếu không thể có những chứng cớ khác và nếu không có những dấu chỉ nghịch lại, thì chỉ cần đôi bạn cam kết, với lời thề nếu cần, rằng mình đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội và không mắc ngăn trở nào.

Điều 1069

Tất cả mọi tín hữu buộc phải trình báo cho cha sở hoặc cho Đấng Bản Quyền địa phương những ngăn trở mà họ biết được, trước khi hôn nhân được cử hành.

Điều 1070

Nếu người thực hiện việc điều tra không phải là cha sở có thẩm quyền chứng hôn, thì người này phải thông báo sớm hết sức cho cha sở biết kết quả việc điều tra ấy bằng một văn thư chính thức.

Điều 1071

# 1. Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép Đấng Bản Quyền địa phương, không ai được chứng hôn:

10 hôn hân của những người không có cư sở.

20 hôn nhân nào không thể hiện được công nhận hay không thể được cử hành chiếu theo quy tắc của luật dân sự;

3hôn nhân của những người mắc những nghĩa vụ tự nhiên phát sinh do buộc phối hợp trước, đối với bên kia hoặc đối với con cái;

4hôn nhân của người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo;

5hôn nhân của người còn đang bị mắc vạ ;

60hôn nhân của người vị thành niên, khi cha mẹ không hay biết không hay biết hoặc đã phản đối cách hợp lý;

70 hôn nhân cử hành qua người đại diện, được nói đến ở điều  1015.

#2. Đấng Bản quyền địa phương  không được ban phép  chứng hôn cho người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công giáo, trừ khi đã giữ các quy tắc được nói đến ở điều 1125, với những thích nghi cần thiết .

Điều 1072

 Cácvị chủ chăn các linh hồn phải lệu sao để ngăn cản việc cử hành hôn nhân  của những người trẻ chưa tới tuổi, mà phong tục địa phương chấp nhận cho kết hôn.

CHƯƠNG 2:  NGĂN TRỞ TIÊU HÔN NÓI CHUNG

Điều 1073

Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có năng cách để kết hôn thành sự.

Điều 1074

Ngăn trở được coi là công khai khi có thể  chứng minh ở toà ngoài; đối lại là ngăn trở kính đáo.

Điều 1075

#1. Việc chính thức tuyên bố khi nào luậtThiên CHúacấm kết hônhay tiêu hao thuộc quyền bính tối cao của Giáo Hội mà thôi.

#2. Cũng cố quyền bính tối cao ấy mới có quyền thiết lập những ngăn trở khác đối với  những người đã được Rửa Tội.

Điều 1076

#1. Tục lệ nào đã du nhập một ngăn trở mới hoặc nghịch với những ngăn trở hiện có  đều bị phi bác.

Điều 1077

#1.Trong một trường hợp đặc biệt, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cấm những người  thuộc quyền mình đang ở bất cứ nào và mọi người hiên đang cư ngụ trong địa hạt của mình không đượckết hôn, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi, vì một lý do nghiêm trong và bao lâu lý do ấy còn  kéo dài.

#2. Chỉ có quyền bính tối cao  của Giáo Hội mới có thể thêm một điều khoản tiêu hôn vào lệnh cấm ấy.

Điều 1078

#1. Đấng Bản Quyền địa phương  có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình  đang ở bất cứ nơi nào và mọi người  đang cư gnụ trong địa hạt của mình khỏi mọi ngăn trở thộc luật Giáo Hội, trừ những ngăn trở mà Tông Tòa dành riêng cho quyền miễn chuẩn.

#2. Nhũng ngăn  trở mà Tông Toà dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn là;

10 ngăn trở do các chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh  trong một hội dòng thuộc luật giáo hoàng;

20 ngăn trở do tội ácđựơc nói đến ở điều 1090.

#3. Không bao giờ được miễn chuẩn những ngăn trở do họ máu dọc hay họ máu hàng ngang bậc thứ hai.

Điều 1079

#1. Trong  những trường hợp nguy tử khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương  có thể miễn chuẩn cho những người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào hoặc mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi phải giữ thể thức cử hành  hôn nhân, và khỏi mọi ngăn trở, cũnh từng ngăn trở công khai hay kín đáo thuộc luật Giáo Hội, trừ ngăn trở do thánh chức linh mục.

#2. Trong cùng các hoàn cảnh đượcnói đến ở #1, nhưng chỉ trong những trường hợp không thể đến với Đấng Bản Quyền địa phương được, thì cả cha sở hay thừa tác viên có chức thánh đã được uỷ quyền họp pháp, lẫn tư tế chứng hôn chiếu theo quy tắc của điều 1116#2, đều có cũng một quyền miễn chuẩn ấy.

#3. Trong cơn  nguy tử, cha giải  tội có quyền miễn  chuẩn  những ngăn trở  kín đáo ở toà trong, vào lúc hoặc ngoài lúc ban bí tích Sám Hối.

#4. Trong trường hợp được nói  đến ở #2, phải được coi là không thể đến với Đấng  Bản Quyền địa phương được, nếu chỉ có thể liên lạc với ngài qua điện hoặc qua điện thoại .

Điều 1080

#1.Mỗi khi khắp phá ra một ngăn trở vào lúc mọi sự đã sẵn sàng cho lễ cưới và không thể hoãn hôn lễ lại cho đến khi xin được phép chuẩn của nhà chức trách có thẩm  quyền mà không có nguy cơ thiệt hại nặngï nề có thể xảy ra thì Đấng Bản Quyền địa phương có quyền miễn chuẩn tất cả mọi ngăn trở, trừ những ngăn trở được nói đến ở điều 1078 #2,10 và nếu ngăn trở còn kín đáo,thì tất cả những vị được nói đến ở điều 1079 ##2-3 cũng có quyền ấy,nhưng phải giữ những điều kiện mà điều này đòi buộc.

#2.Quyền này cũng có giá trị để thành sự hoá hôn nhân, nếu trì hoãn sẽ  có nguy cơ như trên và  nếu không đủ thời gian để  nại đến Tông Toà hoặc Đấng Bản Quyền địa phương, đối với những ngăn trỏ mà ngài có quyền miễn chuẩn đựơc.

 Điều 1081

Cha sở hoặc tư tế hay phó tế được nói  đến ở điều 1079 #2 phải lập túc thông báo cho Đấng Bản Quyền địa phương biết phép chuẩn đã đựơc ban ở toà ngoài và phải nghi phép chuẩn ấy vào sổ hôn phối.

Điều 1082

Trừ khi phúc chiếu của Toà Ân Giải quy định cách khác,phép chuẩn một ngăn trở kín đã được ban ở toà trong  nhưng ngoài bí tích, phải được ghi trong  một cuốn sổ được lưu giữ cẩn thận tại văn khố mật của toà giám mục và nếu sau ngăn trở thành công khai,thì không cần phải một phép chuẩn nào khác ở toà ngoài.

CHƯƠNG 2: NGĂN TRỞ TIÊU HÔN NÓI RIÊNG

Điều 1083

#1. Người nam chưa trọn mười sáu tuổi cũng như người nữ chưa trọn mười bốn tuổi, không thể kết hôn thành sự.

#2. Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định tuổi cao hơn để kết hôn cách hợp thức.

Điều 1084

#1. Bất lực giao hợp có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, hoặc phía bên nam hoặc phía bên nữ, hoặc tuyệt đối tương đối, tự bản chất hủy tiêu hôn nhân.

#2. Nếu hồ nghi có ngăn trở bất lực, dù hồ nghi về luật hay về sự kiện, thì không được ngăn cản hôn  nhân thì cũng không  tuyên bố là hôn nhân bất thành, bao lâu còn hồ nghi.

#3. Tình trạng son sẽ không ngăn cản và cũng không hủy tiêu hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1098.

Điều 1085

#1. Người đang bị ràng buộc bởi dây hôn nhân trước, dù chưa hòa hợp, thì kết hôn cũng bất thành.

#2. Dù hôn nhân trước bất thành hoặc được tháo gỡ vì bất cứ lý do nào, thì không vì đó mà được phép kết hôn lần nữa, trước khi thấy rõ cách hợp thức và chắc chắn rằng  hôn nhân trước đã bất thành  hoặc đã được tháo gỡ.

Điều 1086

#1. Hôn nhân giữa một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội ấy mà không rời bỏ Giáo Hội ấy bằng một hành vi dứt khoát với một người không được Rửa Tội, thì bất thành.

# 2. Không được miễn chuẩn ngăn trở này, trừ khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125 và 1126.

#3. Nếu vào lúc kết hôn, một bên vốn được coi là đã được Rửa Tội, hoặc hồ nghi về việc Rửa Tội của người ấy, thì chiếu theo quy tắc của điều 1060, hôn nhân phải được suy đoán là thành sự, cho đến khi chứng minh được cách chắc chắn là một bên  đã được Rửa Tội, còn bên kia thì không.

Điều 1087

Những người đã lãnh nhận chức thánh kết hôn cũng bất thành.

Điều 1088

Những người bị ràng buộc bởi lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng kết hôn cũng bất thành.

Điều 1089

Không thể có hôn nhân giữa một người nam và một người nữ bị bắt cóc hay ít là bị giam giữ với chủ ý kết hôn với người ấy, trừ khi người nữ tự ý lựa chọn cuộc hôn nhân ấy, sau khi đã được tách rời khỏi người bắt cóc và được đặt ở một nơi an toàn và tự do.

Điều 1090

#1. Kẻ chú ý kết hôn với một người nào đó mà gây ra cái chết cho người phối ngẫu của người ấy hay của mình, thì việc kết hôn này bất thành.

#2. Những người đã cộng tác với nhau cách thể lý hay luân lý để giết người phối ngẫu của họ, dù kết hôn với nhau cũng bất thành .

Điều 1091

#1. Những người có họ máu hàng dọc, từ dưới lên và từ trên xuống, hoặc pháp lý hoặc tự nhên, kết hôn với nhau bất  thành.

#2. Trong họ máu hàng ngang, hôn nhân bất thành  cho đến hết bậc thứ bốn.

#3.Ngăn trở họ máu không nhân cấp.

#4. không bao giờ cho phép kết hôn, nếu còn hồ nghi hai bên có họ máu với nhau ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc hay ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

Điều 1092

Những người có họ kết bạn ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc kết hôn với nhau bất thành.

Điều 1093

Ngăn trở công hạnh phát sinh từ một cuộc hôn nhân bất tha2nhsau khi đã sống chung do tư hôn công khai hay hiển nhên; ngăn trở này tiêu hôn ở bậc thứ nhất thuộc hàng dọc giữa người chồng với những người nữ có họ máu với người vợ, và ngược lại.

Điều 1094

 Những người có họ với nhau do việc nhận con nuôi được pháp luật công nhận kết hôn với nhau bất thành ở hàng dọc  hoặc ở bậc thứ hai thuộc hàng ngang.

CHƯƠNG 4: SỰ ƯNG THUẬN HÔN NHÂN

Điều 1095

Không có khả năng kết hôn;

10 những người không sử dụng đủ trí khôn.

20 những người thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân;

30 những người không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính  yếu  của hôn nhân vì những nguyên nhân bản chất tâm lý.

Điều 1096

#1 .Để  có thể có sự ưng thuận hôn nhân, hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một sự hiệp thông vĩnh viễn giữa môt người nam và một người nữ, nhắm đến việc sinh sản con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính.

#2. Sau tuổi dậy thì, phải suy đoán là có sự hiểu biết trên đây.

Điều 1097

#1. Sự lầm lẫn về nhân thân làm cho  hôn nhân bất thành.

#2. Sự lầm lẫn về tư cách của một người, ngay cả khi tư cách ấy là nguyên nhân của khế ước, không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi tư cách ấy được nhắm đến cách trực tiếp và chủ yếu.

Điều 1098

Người kết hôn bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, với chủ ý để mình ưng thuậ, và nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng, thì hôn nhân bất thành.

Điều 1099

Sự nhầm lẫn về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về phẩm giá bí tích của hôn nhân không làm cho sự ưng thuận hôn nhân bị hà tỳ, miễn là sự lầm lẫn ấy không chi phối ý chí.

Điều 1100

Việc biết hay tưởng rằng hôn nhân vô hiệu không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận của hôn nhân.

Điều 1101

#1. Sự ưng thuận trong lòng được suy đoán là phù hợp với những lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng trong khi cử hành hôn nhân.

#2. Nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ trước hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một  đặc tính chính yếu nào của hôn nhân, thì họ kết hôn với nhau bất thành.

Điều 1102

#1. Kết hôn với điều kiện về tương lai thì bất thành.

#2. Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay hiện tại có thành sự hay không là tùy theo nội dung của điều kiện ấy có hay không.

#3. Tuy nhiên, điều kiện được nói đếnở #2 không thể đượcđặt ra cách hợp pháp, trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương cho phép bằng văn bản.

Điều 1103

Hôn nhân bất thành, nếu vì bạo lực hay vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài, mặc dầu không cố ý gây nên, người ta buộc phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát.

Điều 1104

#1. Để kết hôn thành sự, hai bên kết ướccần phải có mặt cùng một lúc, hoặc đích thân, hoặc qua người đại diện.

#2. Hai vợ chồng phải biểu lộ sự ưng  thuận hôn nhânbằng lời nói, nhưng nếu không thể nói được, thì bằng những dấu hiệu tương đương.

Điều 1105

#1. Để việc kết hôn qua người đại diện được thành sự thì buộc.

10 phải có một sự uỷ nhiệm đặc biệt để kết hôn   với một người nhất định;

20 người đại diện phải phải được chính người  uỷ nhiệm chỉ định và chính họ đích thân chu toàn phận sự.

#2.Để có hiệu lực, giấy uỷ thác phải được người uỷ nhiệm ký tên, và ngoài ra còn phải có chữ ký của cha sở hay của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi làm giấy uỷ nhiệm, hoặc của một linh mục được một trong hai người uỷ nhiệm, hoặc  của ít nhất là hai nhân chứng, hoặc phải được soạn dựa vào một văn bản chính thức chiếu theo quy tắc của luật dân sự.

#3. Nếu người uỷ nhiệm không biết viết, thì phải ghi chú điều ấy vào chính giấy uỷ nhiệm và phải có thêm một nhân chứng khác, chính nhân chứng này cũng phải ký tên vào giấy uỷ nhiệm; bằng không, giấy uỷ nhiệm sẽ vô giá trị.

#4. Nếu người uỷ nhiệm thu hồi giấy uỷ nhiệm hoặc bị mất trí  trước khi người đại diện kết hôn nhân danh người uỷ nhiệm, thì hôn nhân bất thành, ngay cả khi người đại diện hay người kết ước kia không biết những việc đó.

Điều 1106

Có thể kết hôn qua thông dịch viên; tuy nhiên, cha sở không được chứng hôn, trừ khi biết rõ lòng trung thực của thông dịch viên.

Điều 1107

Ngay cả khi kết hôn bất thành vì có một ngăn trở hay vì thiếu thể thức, sự ưng thuận đã bày tỏ trước đây được suy đoán là vẫn còn, cho đến khi biết rõ là sự ưng thuận đã bi thu hồi lại.

CHƯƠNG 5: NGHI THỨC CỬ HÀNH HÔN NHÂN

Điều 1108

#1. Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt vị chứng hôn, là Đấng Bản Quyền địa phương hay cha sở, hoặc một tư tế hay một phó tế đã được một rong hai vị trên ủy quyền, và trước mặt hai nhân chứng, nhưng phải theo những quy tắc được quy định  trong những điều khoảng sau đây, và miễn là vẫn giữ nguyên  những biệt lệ được nói đếnở các điều 114,1112 #1,1116 và 1127 #1-#2.

#2. Vị chứng hôn chỉ được hiểu là người hiện diện để yêu cầu hai bên kết ước biểu lộsự ưng thuận và để nhân danh Giáo Hội  chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Điều 1109

Chiếu theo chức vụ,Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở chứng hôn thành sự trong giới hạn địa hạt của mình, chẳng những cho những người không thuộc quyền, miễn là một trong hai người thuộc lễ để Latinh trừ khi các vị ấy bị vạ tuyệt thông, hoặc vạ cấm chế, hoặcbị huyền chức do án lệnh hay do sắc lệnh, hoặc đã bị tuyên bố như vậy.

Điều 1110

Đấng Bản Quyền và cha sở tòng nhân, chiếu theo chức vụ, chỉ chứng hôn thành sự cho những đôi nào, mà ít ra một người kết ướclà người thuộc quyền mình, trong giới hạn thẩm quyền của mình.

Điều 1111

#1. Bao lâu còn chu toàngiáo vụ của mình cách hữu hiệu, Đấng Bản Quyền địa phương và cha sở có thể uỷ nhiệm năng quyền, kể cả năng quyền tổng quát, cho các tư tế và phó tế,để chứng hôn trong giới hạn của địa hạt mình.

#2. Để được hữu hiệu, việc ủy nhiệm năng quyền chứng hôn phải được minh nhiên ban cho những người nhất định; nếu là một sự uỷ quyền riêng biệt, thì có giá trị đối với một hôn nhân nhất định, còn nếu là một sự uỷ nhiệm tổng quát, thì phải ban bằng văn bản.

Điều 1112

#1. Ở đâu thiếu tư tế và phó tế, Giám Mục giáo phận có thể uỷ quyền cho giáo dânđể cứng hôn, sau khi được Hội Đồng Giám MuÏc chấp thuận và được Toà Thánh ban phép.

#2. Phải chọn một người giáo dân có khả năng xứng hợp để có thể đào tạo các đôi vợ chồng tương lai và có đủ tư cách cử hành phụng vụ hôn nhân cách đúng phép.

Điều 1113

Trước khi ban uỷ quyền riêng biệt, phải chu toàn tất cả những gì luật đã ấn định để chứng minh tình trạng thong dong của các bên.

Điều 1114

 Người chứng hôn hành động bất hợp pháp, nếu họ không có sự xác tính, về tình trạng thong dong những người kết ước chiếu theo quy định của luật cũng như về phép của cha sở, nếu có thể, mỗi khi họ chứng hôn do sự uỷ nhiệm tổng quát.

Điều 1115

Hôn nhân phải được cử hành tại giáo xứ mà một trong hai người kết ước có cư sở hay đã cư ngụ một tháng, hoặc nếu là những người không có cư sở, phải được cử hành tại giáo xứ mà họ đang cư ngụ; hôn nhân có hể được cử hành tại nơi khác, khi có phép của Đấng Bản Quyền riêng hay của cha sở riêng.

Điều 1116

#1. Nếu không thể có hay không thể đến với một vị chứng hôn có thẩm quyền chiếu theo quy tắc của luật, mà không gặp bất tiện nặng, thì những người nào muốn kết hôn cách thành sự và hợp pháp trước ma85t các nhân chứng mà thôi.

10 trong trường hợp nguy tử.

20 ngoài trường hợp nguy tử, miễn là dự đoán theo sự khôn ngoan rằng tình trạng ấy sẽ kéo dài suốt tháng.

# 2. Trong cả hai trường hợp, nếu có một tư tế hay một phó tế khác có thể diện, thì phải mời vị ấy đến chứng kiến buổi cử hành hôn lễ cùng với các nhân chứng, mặt dù hôn nhân trước mặt các nhân chứng mà thôi vẫn thành sự.

Điều 1117

Phải tuân giữ thể thức ấn định ở trên, nếu ít là một trong hai bên kết ước đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo và đã không rời bỏ Giáo Hội ấy bằng một hành vi dứt khoát, miễn là vẫn giữ nguyên những quy d8i5nh ở điều 1127#2.

Điều 1118

#1. Hôn nhân giữa hai người Công giáo hoặc giữa một người Công giáo phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ, hôn nhân này có thể cử hành trong một nhà thờ khác hoặc trong một nhà nguyện, nếu có phép của Đấng Bản Quyền địa phương hay cha sở.

#2. Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân tại một nơi thích hợp khác.

#3. Hôn nhân giữa một gười Công giáo và một người không được Rửa Tội có thể cử hành  trong nhà thờ hay một nơi thích hợp khác.

Điều 1119

Ngoài trường hợp cần thiết, khi cử hành hôn nhân phải  tuân giữ các nghi lễ đã được quy định trong các sách phụng vụ do Giáo Hội phê chuẩn, hoặc đã được nhu nhập do các tục lệ hợp pháp.

Điều 1120

Hội Đồng Giám Mục có thể soạn thảo một nghi lễ hôn nha6nrie6ng, nghi lễ này phải được Tông Tòa chuẩn nhận và phải lưu ý đến những tục lệ địa phương và dân gian đã được thích nghi với tinh thần Kitô giáo, nhưng vẫn giữ nguyên luật buộc vị chứng hôn hiện phải yêu cầu những người kết ước biểu lộ sự ưng thuận và phải chấp nhận sự biểu lộ ấy.

Điều 1121

#1. Một khi hôn nhân đã được cử hành chiếu theo quy tắc của điều 1116, cha sở nơi cử hành hôn nhân hay vị thay thế ngài, cho dù không ai là người chứng hôn, phải sớm hết sức ghi vào sổ hôn nhân tên của đôi vợ chồng, của vị chứng hôn và các nhân chứng, nơi và ngày cử hành hôn nhân, theo thể thức của Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục giáo phận quy định.

#2. Mỗi khi hôn nhân được kết ước chiếu theo quy tắc của điều 1116, tư tế hay phó tế, nếu đã có mặt trong hôn lễ, hoặc nếu không thì các nhân chứng, buộc phải liên đới với những người kết ước để thông báo sớm hết sức cho cha sở hoặc Đấng Bản Quyền địa phương biết hôn nhân đã được kết ước.

#3. Về hôn nhân đã được kết ước với phép chuẩn khỏi giữ thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương đã ban phép chuẩn phải liệu sao để phép chuẩn và việc cử hành được ghi vào sổ hôn nhân của tòa giám mục cũng như của giáo xứ riêng phía bên Công giáo mà cha sở điều tra về tình trạng thong dong .Người phối ngẫu Công giáo buộc phải thông báo sớm hết sức cho Đấng Bản Quyền và cha sở biết là hôn nhân đã được cử hành, cũng phải chỉ rõ nơi cử hành và thể thức công khai và tuân giữ.

Điều 1122

#1. Việc kết ước hôn nhân cũng phải được ghi chú vào sổ Rửa Tội, trong đó đã ghi việc lãnh  nhận bí tích Rửa Tội của hai vợ chồng.

#2. Nếu một người phối ngẫu không kết ước hôn nha6ntrong giáo xứ mình đã được Rửa Tội, thì cha sở nơi cử hành hôn lễ phải thông báo sớm hết sức cho cha sở nơi đương sự đã được Rửa Tội  của hai vợ chồng.

Điều 1123

Mỗi khi hôn nhân hoặc được thành sự hóa ở tòa ngoài, hoặc được tuyên bố là bất thành, hoặc đượ c tháo gỡ cách hợp thức vì một lý do khác ngoài lý do tử vong, thì phải thông báo cho cha sở cử hành hôn nhân biết điều ấy, để ghi chú đầy đủ vào sổ hôn phối và sổ Rửa tội.
 

CHƯƠNG 6: HÔN NHÂN HỖN HỢP

Điều 1124

Nếu không có phép minh nhiên của thẩm quyền, cấm kết hôn giữa hai người đã được Rửa Tội, mà một người đã được Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo sao khi Rửa Tội, và đã không bỏ Giáo Hội  ấy bằng một hành vi dứt khoát, còn người kia đã gia nhập vào một Giáo Hội hoặc một cộng đoàn Giáo Hội không thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo.

Điều 1125

Đấng Bản Quyền địa phương có thể ban phép trên đây, nếu có một lý do chính đáng và hợp lý, nhưng không được ban phép ấy, nếu không hội đủ điều kiện sau đây;

10 bên Công giáo phải sẳn sàng tránh mọi nguy cơ mất đức tin và thành thật cam kết sẽ làm hết sức để tất cả con cái được Rửa Tội và được giáo dục trong Giáo Hội Công giáo;

20 phải kịp thời thông báo thế nào cho bên không Công giáo biết những điều bên Công giáo biết những điều bên Công giáo phải cam kết, để họ ý thức thật sự về lời cam kết và nghĩa vụ của bên Công giáo;

30 cả hai bên phải được giáo huấn về những mục đích và và đặc tính chính yếu của hôn nhân mà không bên nào được phép loại bỏ.

Điều 1126

Hội Đồng Giám Mục ấn định thể thức làm tờ tuyên bố và cam kết mà luật hôn nhân đòi buộc, cũng như quy định thể thức thực hiện ở tòa ngoài và thể thức thông báo cho bên không Công giáo  biết điều ấy.

Điều 1127

#1.Về thể thức áp dụng trong hôn nhân hỗn hợp, phải tuân giữ những quy định của điều 1108; tuy nhiên, nếu bên Công giáo kết hôn với bên không Công giáo thuộc lễ điển Đông Phương, thì thể thức cử hành theo giáo luật phải được tuân giữ để hôn nhân được hợp thức mà thôi; nhưng để hôn nhân thành sự, thì buộc phải có sự can thiệp của thừa tác viên có chức thánh, miễn là vẫn giữ những luật khác phải giữ.

#2. Nếu có  những khó khăn nghiêm trọng ngăn cản việc tuân giữ thể thức giáo luật Đấng Bản Quyền địa phương bên Công giáo có thể thức giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương bên  Công giáo có quyền miễn chuẩn khỏi giữ thể thức ấy trong từng trường hợp, nhưng phải tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi cử hành hôn nhân và phải giữ một thể thức ccử hành công khai nào đó,để hôn nhân được thành sự, việc ấn định những quy tắc để ban phép chuẩn nói trên một cách đồng nhất thuộc Hội Đồng Giám Mục.

#3.Dù trước hay sau khi cử hành hôn nhân theo giáo luật chiếu theo quy tắc của #1, cấm cử hành hôn nhân theo nghi thức tôn giáo một lần  nữa để bài tỏ hay lập lại sự ưng thuận hôn nhân; cũng không cử hành nghi thức tôn giáo, trong đó vị chứng hôn Công giáo và thừa tác viên không Công giáo cùng  yêu cầu các bên  bày tỏ sự ưng thuận, mỗi vị cử hành theo nghi thức của mình.

Điều 1128

Cá Đấng Bản quyền địa phương và những vị chủ chăn các linh hồn khác phải liệu sao để người phối ngẫu Công giáo và con cái sinh ra do hôn nhân hỗn hợp không thiếu sự trợ giúp về phương diện thiêng liêng, để họ chu toàn nghĩa vụ của mình, và các ngài phải giúp đôi phối ngẫu hiệp nhất với nhautrong đời sống vợ chồng và gia đình.

Điều 1129

Các quy định của những điều 1127 và 1128 cũng được áp dụng cho những hôn nhân mắc ngăn trở dị giáo được nói đến ở điều 1086#1.

CHƯƠNG 7: CỬ HÀNH HÔN NHÂN CÁCH KÍN ĐÁO

Điều 1130

Vì một lý do nghiêm trọng và khẩn cấp, Đấng Bản Quyền địa phương có thể cho phép cử hành hôn nhân cách kín đáo.

Điều 1131

Phép cho cử hành hôn nhân cách kín đáo đòi buộc;

10 phải kín đáo thực hiện việc điều tra trước hôn nhân;

20 Đấng Bản Quyền địa phương, vị chứng hôn, các nhân chứng, đôi vợ chồng, phải giữ bí mật về hôn nhânđã được cử hành.

Điều 1132

Đấng Bản Quyền địa phương hết nghĩa vụ giữ bí mật được nói đến ở điều 1131, 20, nếu việc giữ bí mật có nguy cơ sinh ra gương xấu nghiêm trọng, hoặc làm tổn thương sự thánh thiện của hôn nhân cách nặng nề, và phải tho96ng báo cho đôi bạn biết điều đó trước khi cử hành hôn nhân.

Điều 1133

Hôn nhân đã được cử hành cách bí mật phải được ghi trong sổ riêng mà thôi và sổ này phải đượclưu giữ trong văn khố mật của tòa giám mục.

CHƯƠNG 8: HIỆU QUẢ HÔN NHÂN

Điều 1134

Từ cuộc hôn nhân thành sự giữa những người phối ngẫu nẩy sinh một mối dây liên kết vĩnh viễn và độc hữu tự bản chất; ngoài ra trong hôn nhân Kitô giáo, những người phối ngẫu được cũng cố và như được thánh hiến do một bí tích đặc biệt để chu toàn nghĩa vụ và nâng cao phẩm giá bậc sống của mình.

Điều 1135

Mỗi người phối ngẫu đều có nghĩa vụ và quyền lợi bình đẳng trong tất cả những gì liên quan đến sự hiệp thông vợ chồng.

Điều 1136

Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ rất nặng nề và có quyền ưu tiên chăm lo giáo dục con cái hết sức mình vừa về phương diện thể lý, xã hội và văn hóa, vừa về phương diện luân lý và tôn giáo.

Điều 1137

Con cái được thụ thai hoặc được sinh ra do hôn nhân thành sự hay giả định đều là con cái hợp thức.

Điều 1138

#1. Người cha là người được hôn nhân hợp pháp chỉ định, trừ khi có những luận chứng hiển nhiên chứng minh ngược lại.

#2. Những đứa con được sinh ra sau khi cử hành hôn nhân nhất là một trăm tám mươi ngày, hoặc trong vòng ba trăm ngày, kể từ khi đời sống vợ chồng tan vỡ, đều được coi là con cái hợp thức.

Điều 1139

Những đứa con bất hợp pháp được hợp thức hóa do hôn nhân sau của cha mẹ, dù là hôn nhân thành sự hay hôn nhân giả định, hoặc do phúc chiếu của Tòa Thánh.

Điều 1140

Về hiệu quả pháp luật, con cái đã được hợp thức hóa  cũng ngang hàng với con cái hợp thức trong mọi sự, trừ khi luật đã minh nhiên quy định cách khác.

CHƯƠNG 9: SỰ LY THÂN CỦA VỢ CHỒNG

TIẾT 1: THÁO GỠ DÂY HÔN NHÂN

Điều 1141

Hôn nhân thành nhận và hòa hợp không thể được tháo gỡ  do bất cứ quyền bính nhân loại nào và vì bất cứ lý do nào, trừ lý do tử vong.

Điều 1142

Hôn nhân bất hòa hợp giữa người đã được Rửa Tội hay giữa một người đã được Rửa Tội và một không được Rửa Tội, có thể được Đức Giáo Hoàng Rôma tháo gỡ vì một lý do chính đáng, do lời thỉnh cầu của cả hai người hoặc của một người mà thôi, mặc dầu người kia không bằng lòng.

Điều 1143

#1. Hôn nhân giữa hai người không chịu phép Rửa Tội được tháo gỡ nhờ đặc ân thánh Phaolô vì lợi ích đức  tin của người đã được Rửa Tội do chính sự kiện người ấy tái hôn, miễn là người không được Rửa Tội chia tay người ấy.

#2. Người không chịu phép Rửa Tội được kể là chia tay, nếu không muốn sống chung với người đã được Rửa Tội hay không muốn sống chung hòa thuận mà không muốn xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, trừ trường hợp sau khi chịu phép Rửa Tội, người được Rửa Tội đã gây ra nguyên nhân chính đáng để người kia chia tay.

Điều 1144

#1. để người được Rửa Tội tái hôn thành sự, thì luôn luôn phải chất vấn người không chịu phép Rửa tội để biết.

10 người này có muốn được Rửa Tội hay không;

20 ít là người này có muốn sống chung hòa thuận với người đã được rửa Tội mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa hay không.

#2. Việc chất vấn này phải được thực hiện sau khi đương sự đã được Rửa Tội, nhưng vì một lý do quan trọng. Đấng bản Quyền địa phương có thể cho phép thực hiện việc chất vấn ấy trước khi đương sự được Rửa Tội và cũng có thể miễn chuẩn khỏi phải chất vấn hoặc trước hoặc sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, miễn sao thấy rõ là không tể thực hiện được việc chất vấn ấy hoặc có chất vấn cũng vô ích, qua một thủ tục ít là đơn giản và ngoài tòa án.

Điều 1145

#1. Theo nguyên tắc chung, quyền bính của Đấng Bản Quyền địa phương của bên đã trở lại phải thực hiện việc chất vấn ấy, Đấng Bản quyền này phải cho người phối ngẫu kia một thời hạ để trả lời nếu họ xin, nhưng phải cho họ biết rằng khi thời gian đó trôi qua vô ích, thì sự im lặng của họ được coi là một lời từ chối.

#2. Việc chất vấn, ngay cả khi chính bên trở lại làm riêng tư, cũng có giá trị hợp pháp nữa, nếu không thể tuân giữ thể thức đã được quy định ở trên.

#3. Trong cả hai trường hợp, sự kiện chất vấn và kết quả của vie65ccha61t vấn ấy phải được xác minh cách hợp thức ở tòa ngoài.

Điều 1146

Người đã được Rửa Tội có quyền tái hôn với người Công giáo;

10nếu bên kia đã trả lời từ chối khi được chất vấn, hoặc nếu việc chất vấn đã được bỏ qua cách hợp thức;

20 nếu bên không hịu phép Rửa Tội, dù đã được chất vấn hay không, ban đầu vẫn sống chung hoà thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, sau đó đã chia tay mà không có một lý do chính đáng nào, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1144 và 1145.

Điều 1147

Tuy nhiên, vì một lý do nghiêm trọng, Đấng Bản Quyền địa phương  có thể cho phép bên đã được Rửa Tội dùng đặc ân thánh Phaolô để kết hôn với bên không Công giáo đã được Rửa Tội hay không, nhưng cũng phải tuân giữ những điều mà luật đã quy định về hôn nhân hỗn hợp.

Điều 1148

#1. Một người đàn ông chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều vợ không chịu phép Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội trong Giáo Hội Công giáo, nếu khó sống với người vợ cả, thì có thể giữ lại, một trong  những người vợ ấy, sau đã bỏ những người vợ khác. Điều trên đây cũng có giá trị đối với những người phụ nũ chưa chưa chịu phép Rửa Tội đồng thời có nhiều chồng không chịu phép Rửa Tội.

#2. Trong những trường hợp được nói đến ở #1, sau khi đã lãnh nhận bí tich Rửa  Tội, hôn nhân phải được cử hành theo thể thức hợp thức, và nếu cần thì cũng phải giữ những quy định về hôn nhân hỗn hợp, cũng  như những quy định khác mà luật buộc phải.

#3. Lưu ý đến hoàn cảnh luân lý, xã hội, kinh tế của địa phương và của con người, Đấng Bản Quyền địa phương phải liệu sao để đảm bảo đủ cho những nhu cầu của người vợ cả và những người vợ khácđã bị bỏ, theo quy tắc của đức công bình, của bác ái Kitô giáo và của hợp tình hợp lý tự nhiên.

Điều 1149

Một người chưa được Rửa Tội, sau khi đã lãnh nhận bí tích  Rửa Tội  trong Giáo Hội Công giáo, do bị tù đày hay bị bách hại, nên không thể tái lập đời sống chung với người phối ngẫu không chịu phép Rửa Tội, thì có thể tái hôn, dù trong thời gian đó người phối ngẫu đã lãnh nhận bí tích  Rửa Tội, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1141.

Điều1150

Trong trường hợp hồ nghi, đặc ân đức tin được luật ưu đãi.

TIẾT 2: LY THÂN MÀ DÂY HÔN NHÂN VẪN CÒN

Điều 1151

Những người phối ngẫu có bổn phận và có quyền bảo vệ do972i sống chung vợ chồng, trừ khi được miễn vì một lý do hợp pháp.

Điều 1152

#1. Mặc dầu thiết tha khuyên nhủ người phối ngẫu vì đức bác ái Kitô giáo và vì ích ợi của gia đình, đừng từ chối tha thứ cho bên ngoại tình và đừng cắt đứt đời sống chung vợ chồng, tuy nhiên, nếu họ đã không minh nhiên hoặc minh nhiên tha thứ lỗi lầm cho bên kia, thì có quyền cắt đứt đời sống vợ chồng,trừ khi  họ đã chấp nhận việc ngoại tình, hoặc họ đã gây ra nguyên nhân của tội ngoại tình, hoặc đã phạm tội ngoại tình.

#2. Có sự tha thứ mặc nhiên, nếu sau khi biết có tội ngoại tình, người phối ngẫu vô tội vẫn tự nguyện sống chungf đời vộ chồng với người phối ngẫu kia; nhưng sự tha thứ này được suy đoán, nếu người phối ngẫu vô tội vẫn sống chung vợ chồng trong sáu tháng, và không nại đến nhà chức trách Giáo Hội hay chính quyền nhân sự.

#3. Nếu người phồi ngẫu vô tội tự ý cắt đứt đời sống chu ng vợ chồng, thì trong vòng sáu tháng phải đưa ra  vụ  án ly thân ra trước tòa chức trách Giáo Hội; sau khi đã xem xét tất cả mọi hoàn cảnh, nhà chức trách Giáo Hội phải thẩm định xem có thể làm cho người phối ngẫu vô tội tha thứ lỗi lầm và không kéo dài mãi cảnh ly thân hay không.

Điều  1153

#1. Nếu một trong hai người phối ngẫu gây nguy hiểm nghiêm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái, hauy nếu bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên nặng nề, thì bên nọ tạo cho bên kia một lý do hợp pháp để ly thân, hoặc là do một sắc lệnh của Đấng Bản Quyền địa phương, hoặc là do quyền riêng của mình, nếu có nguy cơ phải chờ đợi.

#2. Trong tất cả mọi trường hợp, khi hết lý do ly thân thì phải lập lại cuộc sống chung vợ chồng, trừ khi nhà chức trách Giáo Hội đã ấn định cách khác.

Điều 1154

Một khi đã ly thân, những người phối ngẫu luôn phải lo liệu cách thích hợp về việc chu cấp và giáo dục buộc phải có đối với con cái.

Điều 1155

Người phối ngẫu vô tội vẫn có thể chấp nhận cho người phối ngẫu kia trở về cuộc sống  chung vợ chồng, và đó là điều đáng khen; trong trường hợp này, đương sự khước từ quyền ly thân .

CHƯƠNG 10: THÀNH SỰ HÓA HÔN NHÂN

TIẾT 1: THÀNH SỰ HÓA ĐƠN THUẦN

Điều 1156

#1. Để thành sự hóa một hôn nhân bất thành do một ngăn trở tiêu hôn, thì buộc ngăn trở phải chấp dứt hoặc miễn chuẩn, và ít là bên biết có ngăn trở phải lập lại sự ưng thuận.

#2. luật Giáo Hội, buộc phải lập lại sự ưng thuận để việc thành sự hóa có hiệu lực, mặc dầu lúc đầu cả hai bên đã biểu lộ sự ưng thuận và sau đó đã không rút lại sự ưng thuận.

Điều 1157

 Việc lập lại sự ưng thuận, phải là một hành vi mới của ý muốn kết hôn, mà bên lập lại sự ưng thuận ấy biết hoặc quan niệm rằng hôn nhân đã bất thành ngay từ đầu.

Điều 1158

#1. Nếu ngăn trở là công khai, cả hai đều phải lập lại sự ưng thuận theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ giữ nguyên những quy định của điều 1127 #2.

Điều1159

#1. Hôn nhân bất thành do thiếu sự ưng thuận sẽ được thành sự, nếu bên trước kia đã không ưng thuận bây giờ ưng thuận, miễn là bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận đã được biểu lộ.

#2 .Nếu không thể chứng minh  được thiếu sự ưng thuận, thì chỉ cần bên tước kia đã không ưng thuận cách riêng và kín đáo.

# 3. Nếu có thể chứng mi nh được là thiếu sự ưng thuận, thì cần phải biểu lộ  sự ưng thuận theo thể thức giáo luật.

Điều 1160

Để được thành sự hóa, hôn nhân bất thành do thiếu thể thức phải đượckết ước lại theo thể thức giáo luật, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1127#2.

TIẾT 2: ĐIỀU TRỊ TẬN CĂN

Điều 1161

#1. Điều trị tại căn một hôn nhân bất thành là việc thành sự hóa hôn nhân ấy mà không buộc phải lập lại sự ưng thuận, do nhà chức trách có thẩm quyền ban, bao hàm việc miễn chuẩn  một ngăn trở, nếu có, và thể thức giáo luật, nếu đã không được tuân giữ, cũng như sự hồi tố của những hiệu quả giáo luật.

#2. Việc điều trị  tại căn được thực hiện từ lúc ban ân huệ; nhưng việc hồi tố được hiểu là có hiệu lực từ lúc hôn nhân được cử hành, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.

#3. Không được ban việc điều trị tại căn, nếu không biết chắc là đôi bên muốn duy trì đời sống vợ chồng.

Điều 1162

#1. Hôn nhân không thể được điều trị tại căn, nếu thiếu sự ưng thuận của cả hai bên hay của cả hai bên hay của một trong hai bên, hoặc là thiếu sự ưng thuận ngay từ đầu, hoặc lúc đầu thì ưng thuận nhưng về sau đã rút lại.

# 2.Tuy nhiên,nếu lúcđầu thiếu sự ưng thuận, nhưng về sau sự ưng thận đã được biểu lộ, thì có thể ban việc điều trị tại căn từ  lúc biểu lộ sự ưng thuận.

Điều 1163

#1. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở hay do thiếu thể thức hợp thức có thể được điều trị tại căn, miễn là đôi bên vẫn còn duy trì sự ưng thuận.

#2. Hôn nhân bất thành do mắc ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa chi93 có thể được điều trị tại căn sau khi đã hết ngăn trở.

Điều 1164

Việcđiều trị tại căn có thể được ban hành thành sự ngay cả hai bên hoặc một bên không biết, nhưng chỉ được ban vì một lý do nghiêm trọng.

Điều 1165

#1. Tông Tòa có thể ban việc điều trị tại căn.

#2.Giám Mục giáo phận có thể ban việc điều trị tại căn trong từng trường hợp, ngay cả khi có nhều lý do bất thành trong cùng một hôn nhân, khi đã hội đủ các điều kiện được nói đến ở điều 1125đối với việc điều trị tại căn của hôn nhân hỗn hợp; nhưng Giám Mục giáo phận không thể ban việc điều trị tại căn, nếu có một ngăn trở mà Tông tòa dành riêng  cho mình quyền miễn chuẩn chiếu theo quy tắc của điều 1078 #2, hoặc nếu có một ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc thuộc luật thiết định của Thiên Chúa, mặc dầu ngăn trở ấy đã chấn dứt.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây