CHỈNH SỬA BẢN VIỆT NGỮ BỘ GIÁO LUẬT - JB . Lê Ngọc Dũng

Thứ bảy - 11/03/2017 00:41
Trong tương lai, bộ Giáo Luật Việt ngữ hiện hành cũng phải được chỉnh sửa do sự thay đổi vài điều khoản của Đức Bênêdictô XVI và 21 điều khoản về thủ tục tòa án hôn phối của Đức Phanxicô trong tự sắc Mitis Iudex. Mặt khác, trong khi giảng dạy hoặc nghiên cứu Giáo Luật, một số từ ngữ được phát hiện là cần phải được chỉnh sửa cho đúng hơn hay phù hợp hơn, tránh đi những cách hiểu hoặc giải thích sai lầm.
Vì vậy, đây là một dịp thuận tiện để đóng góp chỉnh sửa cho lần tái bản mới. Ngoài những đề nghị chỉnh sửa đã được nêu ra trong bài này, cũng xin quý độc giả chuyên môn góp ý tu chỉnh những từ ngữ Giáo luật, nếu thấy có phần chưa đúng.
Bài này sẽ để mở, có thể đóng góp thêm phong phú.

Chỉnh sửa bản Việt ngữ bộ Giáo Luật
 
Trong tương lai, bộ Giáo Luật Việt ngữ hiện hành cũng phải được chỉnh sửa, do sự thay đổi vài điều khoản của Đức Bênêdictô XVI và 21 điều khoản về thủ tục tòa án hôn phối của Đức Phanxicô trong tự sắc Mitis Iudes. Mặt khác, trong  khi giảng dạy hoặc nghiên cứu Giáo Luật, một số từ ngữ được phát hiện là cần phải được chỉnh sửa cho đúng hơn hay phù hợp hơn, tránh đi những cách hiểu hoặc giải thích sai lầm.
Vì vậy, đây là một dịp thuận tiện để đóng góp chỉnh sửa cho lần tái bản mới.
Ngoài những đề nghị chỉnh sửa đã được nêu ra trong bài này, cũng xin quý độc giả chuyên môn góp ý tu chỉnh những từ ngữ Giáo luật, nếu thấy có phần chưa đúng.
 Bài này sẽ để mở, có thể đóng góp thêm phong phú. Những góp ý này sẽ được trình lên HĐGM để Bộ Giáo Luật Việt ngữ trong lần tái bản được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
Sau đây xin nêu ra một vài trong nhiều trường hợp cần tu chỉnh:
 
1- Điều 1127§2: công, công khai
 
Can. 1127 §2. Si graves difficultates formae canonicae servandae obstent, Ordinario loci partis catholicae ius est ab eadem in singulis casibus dispensandi, consulto tamen Ordinario loci in quo matrimonium celebratur, et salva ad validitatem aliqua publica forma celebrationis; Episcoporum conferentiae est normas statuere, quibus praedicta dispensatio concordi ratione concedatur.
Điều 1127§2. Nếu có những khó khăn nghiêm trọng ngăn cản việc tuân giữ thể thức Giáo luật, Đấng Bản Quyền địa phương bên Công giáo có quyền miễn chuẩn khỏi giữ thể thức ấy trong từng trường hợp, nhưng phải tham khảo ý kiến của Đấng Bản Quyền địa phương tại nơi cử hành hôn nhân và phải giữ một thể thức cử hành công khai nào đó, để hôn nhân được thành sự; việc ấn định những quy tắc để ban phép chuẩn nói trên một cách đồng nhất thuộc Hội Đồng Giám Mục.
 
 "publica  forma" có nghĩa là "thể thức công" chứ không phải là "thể thức công khai".
Chữ "publica" (public) ở đây mang nghĩa là "công" với ý nghĩa là trái với "tư". Nó là chỉ tính cách mà được công nhận bởi xã hội hay một cộng đoàn, một quốc gia, một tôn giáo... Đó là sự công nhận thành văn (luật) hay bất thành văn (lệ, truyền thống) và như vậy nó mang ý nghĩa pháp lý của luật lệ.
Chữ "publica" ở đây không mang ý nghĩa "công khai", trái với "kín ẩn" hay "kín đáo". Thực ra, có những cử hành là "công" nhưng không "công khai" mà lại kín đáo, ví dụ như điều 1130 nói đến việc phép cử hành công hôn nhân một cách bí mật hay "kín đáo".
Trong bộ Giáo Luật cũng có những chỗ dịch rất đúng với chữ "công" (public), ví dụ như:
- Lời khấn công (public), (đ. 607§2, 650, 1041, 1088)
- Pháp nhân công (public), pháp nhân tư (private) (đ. 116)
- Hiệp hội Kitô hữu công hay tư (public or private) (đ. 304)
 
2- Điều1242: được, phải được
 
Can 1242. In ecclesiis cadavera ne sepeliantur, nisi agatur de Romano Pontifice aut Cardinalibus vel Episcopis dioecesanis etiam emeritis in propria ecclesia sepeliendis.
Can. 1242 - Non si seppelliscano cadaveri nelle chiese, eccetto che si tratti di seppellire il Romano Pontefice oppure, nella propria chiesa, i Cardinali o i Vescovi diocesani anche emeriti.
Điều 1242. Không được chôn cất các thi hài trong các nhà thờ, trừ thi hài của Đức Giáo Hoàng Rôma, của các Hồng Y và của các Giám Mục Giáo Phận, ngay cả nguyên Giám Mục, thì phải được chôn cất trong nhà thờ của mình (CIS 1205 ; CIO 874).

Nguyên bản tiếng Latin không hề có ý bắt buộc, như "thì phải được chôn cất". Cần lược bỏ chữ "phải" và sửa lại như sau:
Điều 1242. Không được chôn cất các thi hài trong các nhà thờ, trừ thi hài của Đức Giáo Hoàng Rôma, của các Hồng Y và của các Giám Mục Giáo Phận, ngay cả nguyên Giám Mục, thì được chôn cất trong nhà thờ  của mình (CIS 1205 ; CIO 874).
 
3- Điều 907: cử hành Thánh Lễ, dâng lễ, chủ lễ
 
Can. 907 - In celebratione eucharistica diaconis et laicis non licet orationes, speciatim precem eucharisticam, proferre vel actionibus fungi, quae sacerdotis celebrantis sunt propriae.
Điều 907 - Trong khi cử hành Bí Tích Thánh thể, các phó tế và giáo dân không được phép đọc các lời nguyện, nhất là kinh nguyện Thánh Thể, hoặc làm các hành vi riêng của (SC 28).
- Từ ngữ "In celebratione eucharistica" có nghĩa "Trong khi cử hành Thánh Thể" hoặc là "Trong khi cử hành Thánh Lễ" (Bản dịch của Đức Ông Phương, Phan Tấn Thành...).
Không nên dịch thành "Trong khi cử hành bí tích Thánh Thể". Khi thêm chữ "bí tích" như vậy, dễ  gây hiểu sai là điều 907, là cấm phó tế và giáo dân đọc lời cầu nguyện chỉ trong phạm vi phần phụng vụ Thánh Thể, chứ không trong toàn Thánh Lễ.
Vậy nên dịch là: "Trong khi cử hành Thánh Lễ" hoặc "Trong khi cử hành Thánh Thể" .

- Từ ngữ "sacerdotis celebrantis" có nghĩa là "tư tế dâng lễ" hoặc "tư tế cử hành lễ".
Nếu dịch là "tư tế chủ lễ" nhưn bản dịch hiện hành thì sẽ bị hiểu lầm là chỉ giới hạn ở vị chủ tế mà không kể đến các vị đồng tế khác.
 

4- Điều 1055§l: thiện ích, lợi ích; phẩm hàm bí tích, hàng bí tích
Can. 1055 - § 1. Matrimoniale foedus, quo vir et mulier inter se totius vitae consortium constituunt, indole sua naturali ad bonum coniugum atque ad prolis generationem et educationem ordinatum, a Christo Domino ad sacramenti dignitatem inter baptizatos evectum est.
Điều 1055§l. Do giao ước hôn nhân. một người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống, tự bản chất, giao ước ấy hướng về lợi ích của đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái; Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa Tội lên hàng bí tích (LG 1 ; LG 41 ; AA 11 ; GS 48).
Chữ bonum có nghĩa là điều tốt hay điều tốt đẹp. Cụm từ:  bonum coniugum (điều tốt đẹp của vợ chồng) nên được dịch là thiện ích đôi bạn thay vì chữ lợi ích đôi bạn
Thánh Augustino cho rằng hôn nhân có ba điều tốt như sau:
Bonum prolis: thiện ích con cái
Bonum fides: thiện ích chung thủy
Bonum sacramentum: thiện ích bí tích

 
Từ ngữ: sacramenti dignitatem có nghĩa phẩm giá bí tích hay phẩm cách bí tích, phẩm hàm bí tích.
Vậy nên dịch lại:
Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn nhân giữa hai người đã được Rửa Tội lên "phẩm giá Bí Tích" hoặc "phẩm hàm bí tích", thay cho "hàng bí tích".
Sự sửa đổi giúp hiểu bí tích chính là phẩm giá cao cả và thánh thiện của hôn nhân, nhờ công nghiệp của Đức Kitô, tránh sự lầm lẫn bí tích là bản chất của hôn nhân. Hôn nhân không có phẩm gía bí tích vẫn là một hôn nhân thực thụ, vẫn có đặc tính đơn nhất và bất khả phân ly.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bài viết mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây