MITIS IUDEX DOMINUS IESUS (phần 2). 21 ĐIỀU LUẬT ĐỔI MỚI VỀ TỐ TỤNG HÔN NHÂN (Đ. 1671-1691) CỦA ĐGH PHANXICÔ

Thứ tư - 13/01/2016 15:58
MITIS IUDEX DOMINUS  IESUS (phần 2). 21 ĐIỀU LUẬT ĐỔI MỚI VỀ TỐ TỤNG HÔN NHÂN (Đ. 1671-1691) CỦA ĐGH PHANXICÔ
Bản dịch Việt ngữ của Lm. JB Lê Ngọc Dũng Gp Nha Trang. Xin đọc bài bình giải và góp ý gởi về jbdung@yahoo.com.
PHẦN III
VÀI TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT
ĐỀ MỤC 1
TỐ TỤNG HÔN NHÂN
CHƯƠNG 1
NHỮNG VỤ ÁN TUYÊN BỐ
HÔN NHÂN BẤT THÀNH
TIẾT 1
TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN
Điều 1671
§1. Do luật riêng, các vụ án hôn nhân của những người đã được Rửa Tội, thuộc quyền thẩm phán Giáo Hội.
§2. Các vụ án liên quan đến những hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân thuộc quyền thẩm phán dân sự, trừ khi luật địa phương ấn định rằng thẩm phán Giáo Hội có thể cứu xét và giải quyết chính các vụ án đó, nếu các vụ án ấy được giải quyết như là vấn đề phụ và tùy tòng.
 
Điều 1672
Đối với những vụ án về sự bất thành của hôn nhân mà Tông Tòa không dành riêng cho mình, thì các tòa án có thẩm quyền là:
10 Tòa án tại nơi đã cử hành hôn nhân;
20 Tòa án tại nơi mà một hoặc cả hai bên có cư sở hay bán cư sở;
 
Điều 1673
§1. Trong mỗi giáo phận và cho những vụ án bất thành của hôn nhân mà không bị luật minh nhiên loại trừ, thẩm phán của tòa án cấp một là Giám Mục giáo phận, ngài có thể đích thân hay nhờ những người khác thi hành quyền xét xử, chiếu theo qui tắc của luật.
§2. Trong giáo phận Giám Mục phải thiết lập tòa án giáo phận để xử những vụ án bất thành của hôn nhân miễn là vẫn giữ nguyên năng quyền của Giám Mục đó được xúc tiến tại một tòa án giáo phận lân cận hoặc liên giáo phận.
§3. Những vụ án về sự bất thành của hôn nhân phải được dành cho hiệp đoàn gồm ba thẩm phán. Chánh án tòa hiệp đoàn phải là giáo sĩ; những vị còn lại cũng có thể là giáo dân.
§ 4. Giám mục có trách nhiệm, nếu không thể thiết lập tòa án hiệp đoàn trong giáo phận hay trong giáo phận lân cận được chọn theo quy tắc của §2, phải ủy thác những vụ án cho một thẩm phán giáo sĩ duy nhất, và nơi nào có thể được, vị này phải mời hai hội thẩm có đời sống liêm khiết, thành thạo trong khoa luật pháp hay nhân văn, được Giám Mục chuẩn nhận cho nhiệm vụ này; vị thẩm phán duy nhất có thẩm quyền thi hành những chức năng dành cho hiệp đoàn, cho vị chánh án hay cho báo cáo viên, trừ khi rõ ràng là trái ngược.
§ 5. Để được hữu hiệu, tòa án cấp hai luôn luôn phải là hiệp đoàn, theo như quy định của §3 nói trên.
§6. Việc kháng án được thực hiện từ tòa án cấp một lên tòa án cấp hai của Tổng Giám Mục giáo tỉnh, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của những điều 1438-1439 và 1444.
.
TIẾT 2
QUYỀN KHÁNG NGHỊ HÔN NHÂN
 
Điều 1674
§1. Những người có năng cách kháng nghị hôn nhân là:
10 những người phối ngẫu;
20 công tố viên, khi sự bất thành của hôn nhân đã trở thành công khai, nếu hôn nhân không thể thành sự hóa, hoặc không thích hợp nếu thành sự hóa.
§ 2. Hôn nhân nào đã không bị kháng nghị khi hai người phối ngẫu còn sống, thì cũng không thể bị kháng nghị khi một trong hai bên hay cả hai đã chết, trừ khi vấn đề thành sự của hôn nhân là vấn đề tiên quyết để giải quyết một cuộc tranh tụng khác hoặc ở tòa án Giáo Hội hoặc ở tòa án dân sự.
§ 3. Nhưng nếu một người phối ngẫu chết trong khi vụ án chưa ngã ngũ, thì phải giữ điều 1518.
 
TIẾT 3
KHỞI SỰ VÀ THẨM CỨU VỤ ÁN
Điều 1675.
Trước khi nhận xét xử vụ án, thẩm phán phải chắc chắn rằng hôn nhân đã đổ vỡ không còn sửa chữa được, đến nỗi không thể tái lập đời sống chung vợ chồng.
 
Điều 1676
§1. Sau khi nhận đơn thỉnh cầu (libellus), nếu xét thấy đơn có một nền tảng nào đó, thì Đại Diện tư pháp phải chấp đơn và, bằng một sắc lệnh đính kèm ở cuối chính đơn này, truyền gửi một bản sao để thông báo cho bảo hệ viên và, nếu đơn không được cả hai bên ký tên, thì thông báo cho bị đơn và cho người ấy thời hạn mười lăm ngày để bày tỏ ý kiến của mình về điều thỉnh cầu.
§2. Quá thời hạn nêu trên, sau khi đã nhắc nhở một lần nữa cho bên kia bày tỏ ý kiến nếu thấy thích hợp, và sau khi đã nghe ý kiến của bảo hệ viên, Đại Diện tư pháp phải ra sắc lệnh xác định thể thức nghi vấn và quyết định vụ án phải được xử theo thủ tục thông thường hay theo thủ tục ngắn gọn hơn theo những điều 1683-1687. Sắc lệnh này phải lập tức được thông báo cho các bên và cho bảo hệ viên.
§3. Nếu định xử vụ án theo thủ tục thông thường, Đại Diện Tư Pháp, cũng với sắc lệnh đó, thu xếp việc thiết lập thẩm phán đoàn hoặc một thẩm phán duy nhất với hai hội thẩm theo quy định của điều 1673§4.
§4. Tuy nhiên, nếu định xử theo thủ tục ngắn gọn hơn, Đại Diện Tư Pháp tiến hành chiếu theo qui tắc của điều 1685.
§5. Thể thức nghi vấn phải xác định xem hôn nhân thành sự bị kháng nghị vì lý do nào hoặc vì những lý do nào.
 
Điều 1677
§1. Bảo hệ viên, các luật sư của các bên và cả công tố viên, nếu các vị này tham gia tố tụng, đều có quyền:
10 có mặt trong lúc thẩm vấn các bên, các người làm chứng và các giám định viên, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1559;
20 xem các án từ tư pháp, ngay cả khi những án từ đó chưa được công bố, và nghiên cứu các tài liệu do các bên cung cấp.
§2. Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn được nói đến ở 1,10.
 
Điều 1678
§1 Trong những vụ án hôn nhân bất thành, lời tự thú tư pháp và những lời khai của các bên, mà sự đáng tin của họ cũng có thể được cũng cố bởi các nhân chứng, có thể được thẩm phán đánh giá là có hiệu lực chứng minh đầy đủ, sau khi vị này đã cứu xét tất cả những dấu hiệu và những yếu tố cũng cố, miễn là không có những yếu tố khác phủ định chúng.
§2. Trong những vụ án này, lời khai của một nhân chứng duy nhất có thể đáng tin hoàn toàn, nếu đó là một nhân chứng có phẩm cách cung khai về những điều được thực hiện theo chức vụ của mình, hoặc những sự kiện về người và sự việc gợi lên điều ấy.
§3. Trong những vụ án về sự bất lực hay về hà tì ưng thuận do bệnh tâm thần hoặc do những bất thường thuộc bản chất tâm lý, thẩm phán phải nhờ đến sự giúp đỡ của một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ việc giám định không cần thiết; còn trong những vụ án khác, phải giữ những quy định của điều 1574.
§4. Mỗi khi thẩm cứu vụ án mà thấy có một nghi vấn rất hữu lý về hôn nhân bất hoàn hợp, sau khi nghe ý kiến các bên, tòa án có thể đình hoãn vụ án về sự bất thành, bổ túc việc thẩm cứu để xin miễn chuẩn hôn nhân thành nhận, và sau đó chuyển những án từ đến Tông Tòa, kèm theo đơn xin miễn chuẩn của một hay của hai người phối ngẫu, cùng với ý kiến của Tòa án và của Giám Mục.
 
Tiết 4
BẢN ÁN, NHỮNG KHÁNG NGHỊ VÀ THI HÀNH
 
Điều 1679
Bản án lần đầu tiên tuyên bố hôn nhân là bất thành, khi mãn các thời hạn được ấn định trong những điều 1630-1633, có hiệu lực thi hành.
 
Điều 1680
§1. Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại, cũng như công tố viên và bảo hệ viên, đều có tố quyền xin tiêu hủy bản án hoặc kháng cáo chống lại bản án đó theo những điều 1619-1640.
§2. Mãn thời hạn luật ấn định cho việc kháng cáo và tiến hành kháng cáo, tòa án cấp trên sau khi đã nhận được các án từ tư pháp, phải thiết lập tòa án hiệp đoàn, chỉ định bảo hệ viên và nhắc nhở các bên bày tỏ ý kiến trong một thời hạn quy định; mãn thời hạn đó, nếu kháng cáo rõ ràng chỉ là trì hoãn, thì tòa án hiệp đoàn xác nhận bản án của tòa án cấp một bằng sắc lệnh.
§3. Nếu việc kháng cáo được chấp nhận, phải tiến hành cùng cách thức giống như ở tòa cấp một, với những thích nghi cần thiết.
§4. Nếu ở cấp kháng cáo người ta đưa ra một lý do mới khiến hôn nhân bất thành, thì tòa án có thể chấp nhận lý do đó và xét xử như ở tòa án cấp một.
 
Điều 1681
Nếu một bản án đã có hiệu lực thi hành, có thể thượng cầu toà án cấp ba bất kỳ lúc nào để xin xử lại vụ án chiếu theo quy tắc của điều 1644, bằng cách trưng ra những chứng cứ mới hay những lý do mới và quan trọng trong thời hạn nhất định là ba mươi ngày, kể từ ngày nộp đơn kháng án.
 
Điều 1682
§1. Sau khi bản án tuyên bố hôn nhân bất thành có hiệu lực thi hành, thì những người mà hôn nhân của họ được tuyên bố là bất thành có thể tái hôn, trừ khi lệnh cấm tái hôn được ấn định thêm bởi chính bản án hoặc bởi Đấng Bản Quyền địa phương.
§2. Ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành, vị Đại Diện Tư pháp phải thông báo bản án đó cho Đấng Bản Quyền địa phương nơi hôn nhân đã được cử hành. Vị này phải quan tâm, sớm hết sức, ghi chú việc công bố hôn nhân không thành và những lệnh cấm kèm theo, nếu có, vào sổ hôn phối và sổ rửa tội.
 
Tiết 5
TỐ TỤNG HÔN NHÂN NGẮN GỌN HƠN TRƯỚC GIÁM MỤC
 
Điều 1683
Chính Giám Mục giáo phận có thẩm quyền xét xử những vụ án hôn nhân bất thành với thủ tục ngắn gọn hơn mỗi khi:
1° Đơn thỉnh cầu được cả hai người phối ngẫu đệ trình hay do một trong hai bên, với sự đồng ý của bên kia;
2° Những sự kiện về người và về sự việc, được xác thực bởi các chứng cứ hoặc tài liệu mà không cần phải điều tra hay thẩm cứu kỹ lưỡng hơn, và chúng phải làm cho sự bất thành được sáng tỏ.
 
Điều 1684
Đơn thỉnh cầu được xét xử theo thủ tục ngắn gọn hơn, ngoài những điều được liệt kê ở điều 1504, phải:
1° trình bày vắn tắt, đầy đủ và rõ ràng những sự kiện làm nền tảng cho sự thỉnh cầu;
2° chỉ ra các chứng cứ mà thẩm phán có thể thu thập được ngay;
3° đính kèm những tài liệu làm căn cứ cho thỉnh cầu.
 
Điều 1685
Vị Đại diện tư pháp, bằng cùng một sắc lệnh, phải ấn định thể thức nghi vấn, chỉ định thẩm cứu viên và hội thẩm và triệu tập tất cả những ai phải tham dự cho một giai đoạn phải được tiến hành theo nguyên tắc điều 1686 không quá ba mươi ngày sau.
 
Điều 1686
Thẩm cứu viên, phải cố gắng hết sức thu thập các chứng cứ chỉ trong một giai đoạn, và phải ấn định thời hạn mười lăm ngày để trình bản các ý kiến bảo vệ dây hôn phối và bản biện hộ của các bên, nếu có.
 
Điều 1687
§1. Sau khi nhận được các án từ, Giám Mục Giáo phận tham khảo ý kiến của thẩm cứu viên và hội thẩm, cân nhắc các ý kiến của bảo hệ viên cũng như những biện hộ nếu có của các bên, và nếu thấy đạt đến sự chắc chắn luân lý về sự bất thành của hôn nhân, thì ngài tuyên bố bản án. Nếu không thấy, ngài đưa vụ án về lại thủ tục thông thường.
§2. Toàn bộ bản án với các lý do phải được thông báo sớm hết sức cho các bên.
§3. Để chống lại bản án của Giám Mục thì được kháng án lên tòa án của Tổng Giám mục giáo tỉnh hay lên Tòa Thượng Thẩm Roma; nếu bản án do Tổng Giám mục giáo tỉnh ban hành, thì được kháng án lên tòa án của Giám Mục cao niên hơn trong giáo tỉnh; và chống lại bản án của một Giám Mục mà không có bề trên nào dưới Đức Giáo Hoàng Roma, thì được kháng án tòa án của Giám Mục đã được ngài chỉ định cách cố định.
§4. Nếu rõ ràng chỉ là kháng án trì hoãn, Tổng Giám Mục giáo tỉnh hay Giám Mục nói ở §3, hoặc Niên Trưởng tòa Thượng Thẩm Roma, phải ra sắc lệnh khước từ ngay từ đầu; ngược lại, nếu kháng án được chấp nhận, thì gửi trả vụ án về xử ở cấp hai theo thủ tục thông thường.
 
TIẾT 6
TỐ TỤNG DỰA TRÊN TÀI LIỆU
Điều 1688
Sau khi đã nhận một đơn thỉnh cầu chiếu theo quy tắc của điều 1676, Giám Mục giáo phận hay Đại Diện tư pháp hoặc vị thẩm phán được chỉ định, bỏ qua những thể thức của tố tụng thông thường, trừ việc triệu tập các bên ra tòa và sự can thiệp của bảo hệ viên, có thể tuyên bố hôn nhân bất thành bằng một bản án, nếu có một tài liệu không thể bị phản đối hay khước biện chứng minh rằng chắc chắn có một ngăn trở tiêu hôn hay thiếu thể thức giáo luật, miễn là tài liệu này phải hiển nhiên và phải xác tín rằng ngăn trở đã không được miễn chuẩn hoặc người đại diện đã không có ủy nhiệm thư hữu hiệu.
 
Điều 1689
§1. Nếu bảo hệ viên, nhận định cách khôn ngoan rằng những thiếu sót được nói ở điều 1688 hoặc việc thiếu phép chuẩn là điều không chắc chắn, thì phải kháng án lên thẩm phán của tòa án cấp hai; các án từ phải được chuyển lên thẩm phán tòa án cấp hai, và phải thông báo bằng văn bản cho vị này biết đó là một tố tụng dựa trên tài liệu.
§2. Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hai, thì bên đó có toàn quyền kháng án.
 
Điều 1690
Với sự can thiệp của bảo hệ viên và sau khi nghe các bên, thẩm phán tòa án cấp hai phải quyết định cũng một cách thức nói đến ở điều 1688, xem có phải xác nhận bản án hay không hoặc có phải giải quyết vụ án theo cách thông thường của luật hay không, trong trường hợp này, thẩm phán gởi trả vụ án về tòa án cấp một.
 
TIẾT 7
NHỮNG QUY TẮC TỔNG QUÁT
Điều 1691
§1. Trong bản án, phải nhắc nhở cho các bên biết những nghĩa vụ luân lý hay cả những nghĩa vụ dân sự mà bên này phải có đối với bên kia và đối với con cái họ trong việc cấp dưỡng và giáo dục.
§2. Không được áp dụng việc xử án hộ sự khẩu biện cho những vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành được nói đến ở những điều 1656-1670.
§3. Trong những vấn đề khác liên quan đến thủ tục, phải áp dụng những điều luật về những việc xử án nói chung và về việc xử án hộ sự thông thường, trừ khi bản chất sự việc không cho phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy tắc đặc biệt liên quan đến những vụ án về tình trạng nhân thân và những vụ án có dính dáng tới công ích.
 
Làm tại Roma, Đền Thánh Phêrô, ngày 15 thánh 8, lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 2015, năm thứ ba Giáo Hoàng.
Phanxicô
=============================================

Bản dịch Việt ngữ do Lm JB Lê Ngọc Dũng, chỉnh sửa ngày 23-3-2016.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bài viết mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây