CHÚA GIÊSU THẨM PHÁN NHÂN TỪ (Mitis Judex Dominus Jesus)

Chủ nhật - 03/01/2016 03:05
Bản dịch Việt ngữ, do linh mục Đaminh Nguyễn Văn Mạnh, Gp Đà Lạt, Tự sắc Mitis Judex Dominus Jesus của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, với nguyên tắc giữ nguyên những từ ngữ đã được sử dụng trong bản dịch của HĐGMVN năm 2006. Góp ý xin gởi về jbdung@yahoo.com
CHÚA GIÊSU THẨM PHÁN NHÂN TỪ
(Mitis Judex Dominus Jesus)
Tự sắc của Đức Giáo Hoàng Phanxicô
về việc cải tổ thủ tục giáo luật
đối với các vụ án tuyên bố sự bất thành của hôn nhân
trong bộ Giáo Luật
8.9.2015
 
Chúa Giêsu là vị Thẩm Phán nhân từ, là Mục Tử các tâm hồn. Người đã ủy thác cho tông đồ Phêrô và các đấng Kế Vị quyền chìa khóa để thực thi công lý và sự thật trong Giáo Hội. Quyền tối thượng và phổ quát để cầm buộc và tháo gỡ trên trần gian này đã xác nhận, củng cố và bảo đảm quyền của các mục tử tại các Giáo Hội địa phương. Do quyền này, các ngài có quyền thánh thiêng, và trước mặt Chúa có nhiệm vụ xét xử đối với những người thuộc quyền mình[1].
Trải qua nhiều thế kỷ, nhờ nhận thức rõ ràng hơn những lời của Chúa Kitô về vấn đề hôn nhân, Giáo Hội đã hiểu và đã trình bày đạo lý bất khả phân ly của dây hôn phối thánh thiêng một cách sâu sắc hơn, đã nghiên cứu cơ cấu vô hiệu của sự ưng thuận hôn nhân và đã quy định thích hợp hơn trong vấn đề thủ tục xét xử, sao cho luật lệ trong Giáo Hội ngày càng nhất quán hơn với chân lý đức tin mà Giáo Hội tuyên xưng.
Tất cả những điều này đã luôn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của luật tối thượng là phần rỗi các linh hồn[2], bởi vì, như lời dạy khôn ngoan của Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô VI, Giáo Hội là chương trình thánh của Thiên Chúa Ba Ngôi, và vì thế mọi cơ chế của Giáo Hội, dù luôn có thể hoàn thiện hơn, vẫn phải hướng đến mục đích thông truyền ơn thánh và không ngừng cổ cõ cho thiện ích của các tín hữu, như thể là mục đích thiết yếu của chính Giáo Hội, là nhiệm vụ và sứ mệnh của Giáo Hội[3].
Ý thức điều đó, chúng tôi quyết định bắt tay vào việc cải tổ thủ tục cứu xét sự bất thành hôn nhân, và vì mục đích này, chúng tôi đã qui tụ một Nhóm các Vị nổi tiếng về học thuyết pháp lý, khôn ngoan mục vụ và kinh nghiệm tòa án, dưới sự điều hành của Ngài Niên Trưởng Tòa Thượng Thẩm Rôma. Các vị này đã phác họa đường hướng cho việc cải tổ, trong tinh thần tôn trọng nguyên lý nền tảng là sự bất khả phân ly của dây hôn nhân. Nhờ tận tụy làm việc, chỉ trong thời gian ngắn Nhóm đã hình thành lược đồ cải tổ, và sau khi đã được góp ý để cân nhắc cẩn trọng cùng với sự trợ giúp của các chuyên viên khác, đã trở thành nội dung chính cho Tự sắc này.
Vì vậy, do lòng nhiệt tâm với phần rồi các linh hồn, vốn là mục tiêu tối hậu của các định chế, luật lệ, pháp lý - hôm nay cũng như hôm qua -, vị Giám Mục Rôma bị thôi thúc phải đưa ra cho các Giám Mục văn kiện cải tổ này, xét vì các vị cùng chia sẻ với ngài trách vụ của Giáo Hội là bảo vệ sự hiệp nhất trong đức tin cũng như trong kỷ luật về hôn nhân, vốn là nền tảng và là nguồn gốc của gia đình Kitô hữu. Việc cải tổ này lại càng được thôi thúc mạnh mẽ hơn bởi con số rất đông các tín hữu, dù vẫn muốn hành động theo lương tâm, lại thường bị tách biệt với các cơ cấu pháp lý của Giáo Hội vì xa cách về thể lý hay luân lý. Do đó, đức ái và lòng thương xót đòi hỏi chính Giáo Hội như người mẹ phải đến và gần gũi với những người con cái cảm thấy mình bị loại trừ như vậy.
Theo đường hướng này, đa số các Hiền Huynh của chúng tôi trong hàng Giám Mục, họp nhau trong Thượng Hội Đồng ngoại thường mới đây, cũng mong muốn các thủ tục phải nhanh chóng hơn và dễ tiếp cận hơn[4]. Hoàn toàn đồng cảm với mong ước ấy, bằng Tự sắc này, chúng tôi quyết định đưa ra các quy định nhằm khuyến khích, không phải sự bất thành của hôn nhân, nhưng là sự nhanh chóng của các thủ tục, mà thực ra là đơn giản một cách thích đáng, ngõ hầu tâm hồn của các tín hữu đang ngóng đợi được tuyên bố về tình trạng của mình không bị giam hãm quá lâu trong bóng tối ngờ vực bởi phán quyết chậm trễ của tòa án.
Cuối cùng, việc chúng tôi quyết định như vậy là theo vết chân của các vị tiền nhiệm ; các ngài đã muốn những vụ án bất thành hôn nhân phải được giải quyết bằng con đường tư pháp, chứ không phải con đường hành chánh. Điều này không phải do bản chất sự việc bắt buộc, nhưng bị thúc bách do đòi hỏi phải bảo vệ tối đa sự thật của dây hôn phối thánh thiêng : điều mà chính trật tự pháp lý bảo đảm cách tốt nhất.
Một số tiêu chuẩn nền tảng hướng dẫn việc cải tổ :
I. Chỉ một phán quyết xác nhận sự bất thành là có hiệu lực thi hành
Trước hết, thật thích đáng khi không còn đòi buộc phải có hai phán quyết đồng thuận xác nhận sự bất thành hôn nhân để các bên có thể tái hôn theo giáo luật, mà chỉ cần thẩm phán thứ nhất có được sự xác tín luân lý chiếu theo quy tắc của luật là đủ.
II. Chỉ một thẩm phán duy nhất thuộc trách nhiệm của Giám Mục để xét xử.
Việc đặt một thẩm phán duy nhất, phải là giáo sĩ, cho tòa án cấp một, được ủy thác cho trách nhiệm của Giám Mục ; ngài phải lo liệu để trong công việc mục vụ việc thi hành quyền tư pháp của ngài không hề bị lơi lỏng.
III. Chính Giám Mục là thẩm phán
Để giáo huấn của Công Đồng Vaticanô II được áp dụng hữu hiệu vào một lãnh vực hết sức quan trọng như thế, cần phải công bố rõ ràng rằng trong giáo phận của mình chính Giám mục đã được đặt làm mục tử và là người đứng đầu, vì vậy chính ngài cũng là thẩm phán của các tín hữu đã được ủy thác cho ngài. Do đó, hết sức ước mong trong các giáo phận dù lớn hay nhỏ, chính Giám Mục phải cống hiến dấu chỉ cho thấy có sự cải tổ các cơ cấu Giáo Hội[5], và ngài không nên hoàn toàn ủy thác nhiệm vụ tư pháp trong vấn đề hôn nhân cho các văn phòng giáo phủ. Điều này đặc biệt đúng trong thủ tục ngắn gọn, được thiết lập để giải quyết những trường hợp bất thành khá rõ ràng.
IV. Tố tụng ngắn gọn hơn
 Quả thực, ngoài tố tụng hôn nhân thông thường đã được cải cách linh động hơn, còn có hình thức tố tụng ngắn gọn hơn – không kể Tố tụng dựa trên tài liệu cho đến nay vẫn còn hiệu lực – để áp dụng trong những trường hợp mà việc tố cáo sự bất thành hôn nhân tự nó đã có những luận chứng đặc biệt hiển nhiên.
Tuy nhiên, chúng tôi không dấu diếm, mà phải nhận rằng thủ tục ngắn gọn có thể dẫn đến thiệt hại cho nguyên lý bất khả phân ly của hôn nhân. Chính vì lý do này mà chúng tôi muốn trong thủ tục xét xử đó, thẩm phán phải là chính Giám Mục, đấng do chức vụ mục tử của mình, phải cùng với Đấng kế vị thánh Phêrô lo liệu hết sức cho sự hiệp nhất công giáo trong đức tin và kỷ luật.
V. Kháng án lên tòa Trưởng giáo tỉnh
Việc kháng án lên tòa Trưởng giáo tỉnh cần phải được tiếp tục duy trì, vì chức vụ đứng đầu giáo tỉnh, đã bền vững qua nhiều thế kỷ, vẫn là dấu chỉ đặc trưng cho tính đồng đoàn trong Giáo Hội. 
VI. Nhiệm vụ riêng của các Hội đồng Giám mục
 Các Hội đồng Giám mục, được thúc bách bởi nhiệt tâm tông đồ muốn đến với các tín hữu bị phân tán, phải ý thức mạnh mẽ trách nhiệm chia sẻ với nhau công việc cải tổ nói trên, và tuyệt đối tôn trọng quyền của các Giám Mục trong việc sắp đặt quyền tư pháp trong Giáo Hội địa phương của ngài.
Quả thật, việc phục hồi nguyên tắc gần gũi giữa thẩm phán và các tín hữu sẽ không thể đạt hiệu quả, nếu Hội Đồng Giám mục không khuyến khích từng vị Giám Mục, đồng thời giúp đỡ các ngài thực thi việc cải tổ tố tụng hôn nhân.
Vừa gần gũi với các thẩm phán, các Hội đồng Giám mục vừa phải cố gắng hết sức lo liệu để, ngoài việc trả thù lao đúng đắn và xứng đáng cho các nhân viên tòa án, cũng quan tâm liệu sao cho các thủ tục này được miễn phí, và Giáo Hội, để chứng tỏ mình như một người mẹ rộng lượng đối với các tín hữu trong một vấn đề có liên hệ hết sức chặt chẽ tới phần rỗi các linh hồn, cần phải biểu lộ tình yêu nhưng không của Chúa Kitô, là tình yêu nhờ đó tất cả chúng ta được cứu độ.
VII. Kháng án lên Tòa Thánh
Theo nguyên tắc pháp lý rất cổ thời, cần hết sức duy trì việc kháng án lên Tòa án Tông Tòa, tức Tòa Thượng Thẩm Roma, nhờ đó mối dây liên kết giữa Tòa Phêrô với các Giáo Hội địa phương được củng cố, nhưng phải cẩn thận tránh bất cứ sự lạm dụng luật pháp nào trong thủ tục kháng án này, để không gây thiệt hại gì cho phần rỗi các linh hồn.
Tuy nhiên, luật riêng của Tòa Thưởng Thẩm Rôma sẽ được thích ứng sớm hết sức với những quy luật cải tổ tố tụng này, ở những chỗ cần thiết.
VIII. Dự kiến cho các Giáo Hội Đông Phương
Sau cùng, xét vì các Giáo Hội Đông Phương có những đặc tính riêng về tổ chức và kỷ luật, nên chúng tôi đã quyết định, cũng trong ngày hôm nay, ban hành riêng rẽ các quy tắc cải tổ luật tố tụng hôn nhân trong Bộ Giáo Luật của các Giáo Hội Đông Phương. 
Sau khi đã cân nhắc chín chắn tất cả mọi điều trên, nay chúng tôi quyết định và ấn định rằng Quyển VII của Bộ Giáo Luật, phần III, đề mục I, chương I về “Những vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành” (các điều từ 1671 đến 1691), kể từ ngày 8 tháng 12 năm 2015, sẽ được thay thế hoàn toàn như sau :
 
TIẾT 1
TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN
Điều 1671
§1. Do luật riêng, các vụ án hôn nhân của những người đã được rửa tội, thuộc quyền thẩm phán giáo hội.
§2. Các vụ án liên quan đến những hiệu lực thuần túy dân sự của hôn nhân thuộc quyền thẩm phán dân sự, trừ khi luật địa phương ấn định rằng thẩm phán giáo hội có thể cứu xét và giải quyết chính các vụ án đó, nếu các vụ án ấy được giải quyết như là vấn đề phụ và tùy tòng.
Điều 1672
Đối với những vụ án về sự bất thành của hôn nhân mà Tông Tòa không dành riêng cho mình, thì các tòa án có thẩm quyền là:
10 Tòa án tại nơi hôn nhân đã được cử hành;
20 Tòa án tại nơi mà một trong hai hoặc cả hai bên có cư sở hay bán cư sở;
30 Tòa án tại nơi mà trong thực tế phải thu thập phần lớn các chứng cớ.
Điều 1673
§1. Trong mỗi giáo phận và cho những vụ án về sự bất thành của hôn nhân mà không bị luật minh nhiên loại trừ, thẩm phán của tòa án cấp một là Giám Mục giáo phận. Ngài có thể đích thân hay nhờ những người khác thi hành quyền xét xử, chiếu theo qui tắc của luật.
§2. Giám Mục giáo phận phải thiết lập tòa án giáo phận cho giáo phận mình để xét xử những vụ án về sự bất thành của hôn nhân, miễn là vẫn giữ nguyên năng quyền của Giám Mục đó được xúc tiến tại một tòa án giáo phận hay liên giáo phận lân cận khác.
§ 3. Những vụ án về sự bất thành của hôn nhân được dành cho hiệp đoàn gồm ba thẩm phán. Chánh án tòa án hiệp đoàn phải là một thẩm phán giáo sĩ, những thẩm phán còn lại cũng có thể là giáo dân.
§ 4. Vị Giám mục điều hành, nếu không thể thiết lập tòa án hiệp đoàn trong giáo phận hay trong giáo phận lân cận được chọn theo quy tắc của §2, phải ủy thác những vụ án cho một thẩm phán giáo sĩ duy nhất, và nơi nào có thể được, để giúp mình vị này phải mời hai hội thẩm có đời sống liêm khiết, thông thạo trong phạm vi luật pháp hay nhân văn, được Giám Mục chuẩn nhận cho nhiệm vụ này; vị thẩm phán duy nhất này có thẩm quyền thi hành những chức năng dành cho hiệp đoàn, tức vai trò chánh án hay báo cáo viên, trừ khi rõ ràng là trái ngược.
§ 5. Để thành sự, tòa án cấp hai luôn luôn phải là hiệp đoàn, theo quy định của §3 nói trên.
§ 6. Việc kháng án được thực hiện từ tòa án cấp một lên tòa án cấp hai của giáo tỉnh, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của các điều 1438-1439 và 1444.
 
TIẾT 2
QUYỀN KHÁNG NGHỊ HÔN NHÂN
Điều 1674
§1. Những người có năng cách kháng nghị hôn nhân là:
10 những người phối ngẫu;
20 công tố viên, khi sự bất thành của hôn nhân đã trở thành công khai, nếu không thể thành sự hóa, hoặc không có lợi nếu thành sự hóa.
§ 2. Hôn nhân nào đã không bị tố cáo khi hai người phối ngẫu còn sống, thì cũng không thể bị tố cáo khi một trong hai bên hay cả hai đã chết, trừ khi vấn đề thành sự của hôn nhân là vấn đề tiên quyết để giải quyết một cuộc tranh tụng khác hoặc ở tòa án Giáo Hội hoặc ở tòa án dân sự.
§ 3. Nhưng nếu một người phối ngẫu chết trong khi vụ án chưa ngã ngũ, thì phải giữ điều 1518.
 
TIẾT 3
KHỞI TỐ VÀ THẨM CỨU VỤ ÁN
Điều 1675
Trước khi nhận xử một vụ án, thẩm phán phải chắc chắn rằng hôn nhân đã đổ vỡ không còn sửa chữa được, đến nỗi không thể tái lập đời sống chung vợ chồng.
Điều 1676
§1. Khi đã nhận đơn thỉnh cầu, vị Đại Diện Tư Pháp, nếu xét thấy đơn có một nền tảng nào đó, thì phải chấp đơn và, bằng một sắc lệnh đính kèm ở cuối chính đơn này, truyền gửi một bản sao để thông báo cho bảo hệ viên và, nếu đơn không được cả hai bên ký tên, thì thông báo cho thụ đơn và cho người ấy thời hạn mười lăm ngày để bày tỏ ý kiến của mình về điều thỉnh nguyện.
§2. Quá thời hạn nói trên, sau khi đã nhắc nhở một lần nữa cho bên kia bày tỏ ý kiến, nếu và trong mức độ có thể, và sau khi đã nghe ý kiến của bảo hệ viên, vị Đại Diện tư pháp phải ra sắc lệnh xác định thể thức nghi vấn và quyết định vụ án phải được xử theo thủ tục thông thường hay theo thủ tục ngắn gọn hơn theo những điều 1683-1687. Sắc lệnh này phải lập tức được thông báo cho các bên và cho bảo hệ viên.
§3. Nếu vụ án phải được xử theo thủ tục thông thường, vị Đại Diện Tư Pháp, cũng với sắc lệnh đó, thu xếp việc thiết lập thẩm phán đoàn hoặc một thẩm phán duy nhất với hai hội thẩm theo quy định của điều 1673§4.
§4. Ngược lại, nếu ấn định thủ tục ngắn gọn hơn, vị Đại Diện Tư Pháp tiến hành chiếu theo qui tắc của điều 1685.
§5. Thể thức nghi vấn phải xác định sự hữu hiệu của hôn nhân đã bị kháng nghị vì lý do nào hoặc vì những lý do nào.
Điều 1677 
§1. Bảo hệ viên, các luật sư của các bên và cả công tố viên, nếu vị này tham gia tố tụng, đều có quyền:
10 có mặt trong lúc thẩm vấn các bên, các người làm chứng và các giám định viên, miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1559;
20 xem các án từ tư pháp, ngay cả khi những án từ đó chưa được công bố, và nghiên cứu các tài liệu do các bên cung cấp.
§2. Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn được nói đến §1,1O.
Điều 1678
§1 Trong những vụ án hôn nhân bất thành, lời tự thú tư pháp và những lời khai của các bên, mà được các nhân chứng xác nhận là đáng tin, có thể có hiệu lực chứng minh đầy đủ, sau khi thẩm phán đã cân nhắc tất cả những dấu hiệu và những yếu tố có tính thuyết phục, mà không thấy có những yếu tố nào khác bác bỏ.
§2. Trong những vụ án này, lời khai của một nhân chứng duy nhất có thể có giá trị chứng minh đầy đủ, nếu đó là một nhân chứng có tư cách chuyên môn cung khai về những sự việc thuộc nhiệm vụ của mình, hoặc hoàn cảnh sự việc và con người chứng tỏ điều ấy.
§3. Trong những vụ án về sự bất lực hay về sự thiếu ưng thuận do bệnh tâm thần hoặc do những bất thường thuộc bản chất tâm lý, thẩm phán phải nhờ đến sự giúp đỡ của một hay nhiều giám định viên, trừ khi hoàn cảnh cho thấy rõ việc giám định không cần thiết; còn trong những vụ án khác, phải giữ những quy định của điều 1574.
§4. Mỗi khi thẩm cứu vụ án mà thấy có một nghi vấn rất hữu lý về hôn nhân bất hoàn hợp, sau khi nghe ý kiến các bên, tòa án có thể đình hoãn vụ án về hôn nhân bất thành, bổ túc việc thẩm cứu để xin miễn chuẩn hôn nhân thành nhận, và sau đó chuyển những án từ đến Tông Tòa, kèm theo đơn xin chuẩn của một hay của hai người phối ngẫu, cùng với ý kiến của Tòa án và của Giám Mục.
 
Tiết 4
BẢN ÁN, KHÁNG ÁN VÀ THI HÀNH ÁN
Điều 1679
Bản án lần đầu tiên tuyên bố hôn nhân là bất thành, sau khi đã mãn các thời hạn được ấn định trong những điều 1630-1633, trở nên có hiệu lực thi hành.
Điều 1680
§1. Bên nào cảm thấy mình bị thiệt hại, cũng như công tố viên và bảo hệ viên, đều có tố quyền xin tiêu hủy bản án hay kháng cáo chống lại bản án đó theo những điều 1619-1640.
§2. Mãn thời hạn luật định cho kháng án và tiến hành kháng án, tòa án cấp trên sau khi đã nhận được các án từ tư pháp, phải thiết lập tòa án hiệp đoàn, chỉ định bảo hệ viên và nhắc nhở các bên bày tỏ ý kiến trong thời hạn quy định; mãn thời hạn đó, nếu kháng án rõ ràng chỉ có ý trì hoãn, thì tòa án hiệp đoàn xác nhận bản án của tòa án cấp một bằng sắc lệnh.
§3. Nếu việc kháng án được chấp nhận, phải tiến hành cùng cách thức giống như ở tòa cấp một, với những thích nghi xứng hợp.
§4. Nếu ở cấp kháng cáo người ta đưa ra một lý do mới khiến hôn nhân bất thành, thì tòa án có thể chấp nhận lý do đó, và xét xử như ở tòa án cấp một.
Điều 1681
Nếu một bản án đã được ban hành có hiệu lực, thì có thể kháng án lên tòa cấp ba vào bất cứ lúc nào để xin xử lại vụ án chiếu theo quy tắc của điều 1644, bằng cách trưng ra những chứng cớ mới hay những lý do mới và quan trọng trong thời hạn cưỡng định là ba mươi ngày, kể từ ngày nộp đơn kháng án .
Điều 1682
§1. Sau khi bản án tuyên bố hôn nhân bất thành đã có hiệu lực thi hành, thì những người mà hôn nhân của họ được tuyên bố là bất thành có thể tái hôn, trừ khi lệnh cấm tái hôn được kèm theo chính bản án hay trừ khi Đấng Bản Quyền địa phương ra lệnh cấm tái hôn.
§2. Ngay sau khi bản án đã có hiệu lực thi hành, vị Đại Diện Tư pháp phải thông báo bản án đó cho Đấng Bản Quyền địa phương nơi hôn nhân đã được cử hành. Vị này phải quan tâm ghi chú việc công bố hôn nhân không thành và những lệnh cấm kèm theo, nếu có, vào sổ hôn phối và sổ rửa tội, càng sớm càng tốt.
 
Tiết 5
TỐ TỤNG HÔN NHÂN NGẮN GỌN HƠN TRƯỚC MẶT GIÁM MỤC
Điều 1683
Chính Giám Mục giáo phận có thẩm quyền xét xử những vụ án hôn nhân bất thành theo thủ tục ngắn gọn hơn, mỗi khi:
1° Đơn thỉnh cầu được cả hai người phối ngẫu đệ trình hay do một trong hai bên, nhưng có sự đồng ý của bên kia;
2° Những dữ kiện về người và sự việc đều đồng loạt cho thấy rõ ràng hôn nhân là bất thành, được các chứng cớ hay tài liệu xác nhận, mà không cần một cuộc điều tra hay thẩm cứu kỹ lưỡng hơn.
Điều 1684
Ngoài những điểm được nêu ra ở điều 1504, đơn thỉnh cầu được xét xử theo thủ tục ngắn gọn, phải:
1° trình bày vắn tắt, đầy đủ và rõ ràng những sự kiện làm nền tảng cho sự thỉnh cầu;
2° chỉ ra những chứng cớ mà thẩm phán có thể thu thập được ngay;
3° đính kèm theo đơn những tài liệu làm nền tảng cho việc thỉnh cầu.
Điều 1685
Vị Đại diện tư pháp, trong cùng một sắc lệnh, xác định thể thức nghi vấn, chỉ định thẩm cứu viên và hội thẩm, và triệu tập tất cả những người có liên hệ ra tòa, để họp trong vòng không quá ba mươi ngày theo điều 1686.
Điều 1686
Thẩm cứu viên phải cố gắng hết sức thu thập các chứng cớ trong một phiên họp, và phải ấn định thời hạn mười lăm ngày để bảo hệ viên trình bày ý kiến bảo vệ dây hôn phối và các bên biện hộ, nếu có.
Điều 1687
§1. Sau khi nhận được các án từ, Giám Mục Giáo phận tham khảo ý kiến với thẩm cứu viên và hội thẩm, cân nhắc các ý kiến của bảo hệ viên cũng như những lời biện hộ của các bên, nếu có, và nếu thấy có sự xác tín luân lý về sự bất thành của hôn nhân, thì ngài tuyên bố bản án. Ngược lại, ngài phải trả vụ án lại để xét theo thủ tục thông thường.
§2. Toàn bộ nguyên văn của bản án, kể cả các lý do được viện dẫn, phải được thông báo cho các bên biết càng sớm càng tốt.
§3. Được phép kháng cáo chống lại bản án của Giám Mục tại tòa án của Trưởng giáo tỉnh hay lên Tòa Thượng Thẩm Roma; nhưng nếu bản án do chính Trưởng giáo tỉnh ban hành, thì được kháng cáo lên tòa án của Giám Mục cao niên hơn trong giáo tỉnh. Và để chống lại bản án của một Giám Mục khác không có bề trên nào khác dưới Đức Giáo Hoàng Roma, thì được kháng cáo tại tòa án của Giám Mục đã được chính ngài chỉ định cách cố định.
§4. Nếu thấy rõ ràng kháng án chỉ là có ý trì hoãn, vị Trưởng giáo tỉnh hay Giám Mục nói ở §3, hoặc vị Niên Trưởng tòa Thượng Thẩm Roma, phải ra sắc lệnh khước từ ngay từ đầu; ngược lại, nếu kháng án được chấp nhận, thì gửi trả vụ án về xử ở cấp hai theo thủ tục thông thường.
 
Tiết 6
Tố tụng dựa trên tài liệu
Điều 1688
Sau khi đã nhận một đơn thỉnh cầu chiếu theo quy tắc của điều 1676, Giám Mục giáo phận hay Đại Diện tư pháp hay vị thẩm phán được chỉ định, có thể tuyên bố hôn nhân bất thành bằng một bản án, nếu có một tài liệu không thể bị phản đối hay khước biện chứng minh rằng chắc chắn có một ngăn trở tiêu hôn hay thiếu thể thức hợp lệ, miễn là tài liệu này phải hiển nhiên và phải xác tín rằng ngăn trở đã không được miễn chuẩn hoặc người đại diện đã không có ủy nhiệm thư hữu hiệu. Trong những vụ án này, những thể thức pháp lý của một vụ án thông thường được bỏ qua, trừ việc triệu tập các bên ra tòa và sự can thiệp của bảo hệ viên.
Điều 1689
§1. Nếu bảo hệ viên nhận định cách khôn ngoan rằng hoặc những thiếu sót được nói ở điều 1688 hoặc việc thiếu phép chuẩn là điều không chắc chắn, thì phải kháng án lên thẩm phán tòa án cấp hai để chống lại lời tuyên bố đó ; phải chuyển cho vị này các án từ, và phải thông báo bằng văn bản cho vị này biết đó là một vụ tố tụng dựa trên tài liệu.
§2. Bên nào nghĩ là mình bị thiệt hai, thì bên đó có toàn quyền kháng án.
Điều 1690 
Với sự can thiệp của bảo hệ viên và sau khi nghe các bên, thẩm phán tòa án cấp hai phải quyết định theo cùng cách thức nói đến ở điều 1688, xem có phải xác nhận bản án hay không hoặc có phải giải quyết vụ án theo cách thông thường của luật hay không ; trong trường hợp này, thẩm phán gửi trả vụ án về tòa án cấp một.
 
Tiết 7
Những quy tắc tổng quát
Điều 1691
§1. Trong bản án, phải nhắc nhở cho các bên biết những nghĩa vụ luân lý hay cả những nghĩa vụ dân sự mà bên này phải có đối với bên kia và đối với con cái họ trong việc cấp dưỡng và giáo dục.
§2. Không thể áp dụng việc xử án hộ sự khẩu biện cho những vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành được nói đến ở những điều 1656-1670.
§3. Trong những vấn đề khác liên quan đến thủ tục, phải áp dụng những điều luật về xử án nói chung và về xử án hộ sự thông thường, trừ khi bản chất sự việc không cho phép, miễn là vẫn giữ nguyên những quy tắc đặc biệt liên quan đến những vụ án về tình trạng nhân thân và những vụ án có dính dáng tới công ích.

Làm tại Roma, Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 15 thánh 8, lễ Đức Trinh Nữ Maria Hồn Xác Lên Trời, năm 2015, năm thứ ba triều đại Giáo Hoàng của tôi.
Phanxicô
 
Những nguyên tắc về thủ tục
tiến hành các vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành
 
Đại hội ngoại thường lần thứ ba của Thượng Hội Đồng Giám Mục diễn ra vào tháng 10 năm 2014 đã nhận thấy các tín hữu gặp khó khăn trong việc tiếp cận các Tòa án Giáo Hội. Quả thực, Giám Mục, như vị Mục Tử tốt lành, có nghĩa vụ đi đến gặp gỡ những tín hữu đang cần một sự chăm sóc mục vụ đặc biệt, và cùng với Đấng kế vị Thánh Phêrô cũng như trong sự hiệp thông với các Giám Mục, có nghĩa vụ phổ biến sự hiểu biết pháp luật, nên xem ra cùng với những qui tắc đã được ấn định trong tố tụng hôn nhân, cần cung cấp một vài phương thức để công việc tại các tòa án có thể đáp ứng nhu cầu của những người tín hữu đang muốn được tuyên bố chắc chắn hôn phối đã đổ vỡ của họ có thật sự thành sự hay không. (xong)
Khoản 1. Theo điều 383§1, Giám Mục có nghĩa vụ phải theo đuổi với nhiệt tâm tông đồ những đôi bạn đã ly thân hay đã ly dị, mà vì hoàn cảnh cuộc sống có thể đã bỏ không còn thực hành đạo nữa. Vì thế, ngài cùng với các linh mục quản xứ (x. đ. 529§1) chia sẻ nỗi ưu tư mục vụ đối với những người tín hữu đang trong hoàn cảnh khó khăn này.
Khoản 2. Việc điều tra tiền-tư-pháp hay mục vụ, bao gồm việc tiếp đón trong khung cảnh giáo xứ hay giáo phận những tín hữu đã ly thân hay ly dị mà có nghi ngờ hay xác tín hôn nhân của họ bất thành, là nhằm để biết tình trạng hôn phối của họ và để thu thập những yếu tố hữu ích cho việc tiến hành tố tụng hôn nhân nếu cần, hoặc theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục ngắn gọn. Việc điều tra sơ khởi này được thực hiện theo chương trình mục vụ hôn nhân đồng nhất trong giáo phận.
Khoản 3. Việc điều tra sơ khởi này phải được ủy thác cho những người mà Đấng Bản Quyền địa phương xét là có khả năng, và trao cho họ những thẩm quyền, dù không phải là thẩm quyền theo đúng nghĩa pháp lý. Trong số những người được ủy thác công việc điều tra sơ khởi này, ưu tiên phải là chính linh mục quản xứ hay người đã chuẩn bị cho các đôi hôn phối cử hành lễ cưới. Cũng có thể ủy thác công việc tư vấn này cho các giáo sĩ khác, các tu sĩ hay những giáo dân được Đấng Bản Quyền địa phương chuẩn nhận.
Giáo phận, hay nhiều giáo phận cùng nhau, tùy theo những nhóm đang có, có thể thiết lập một tổ chức bền vững nhờ đó cung cấp dịch vụ tư vấn này và, nếu cần, soạn thảo một tập cẩm nang (vademecum) bao gồm những yếu tố thiết yếu giúp tiến hành việc điều tra sơ khởi này một cách thích đáng nhất.
Khoản 4. Việc điều tra mục vụ thu thập những yếu tố hữu ích cho việc khởi sự vụ án, nếu có, tại tòa án có thẩm quyền hoặc bởi những người phối ngẫu hoặc bởi luật sư của họ. Phải điều tra để biết các bên có đồng ý xin cứu xét sự bất thành không.
Khoản 5. Sau khi đã thu thập tất cả mọi yếu tố, việc điều tra sẽ kết thúc với việc đệ đơn thỉnh cầu lên tòa án có thẩm quyền, nếu thích hợp.
Khoản 6. Vì Bộ Giáo Luật phải được áp dụng vào mọi lãnh vực, - trừ những quy tắc riêng biệt -, kể cả trong tố tụng hôn nhân, theo tinh thần của đ. 1691§3, nên những qui định ở đây không có ý trình bày chi tiết một tổng luận về toàn bộ tiến trình tố tụng, mà chỉ tập trung làm rõ những canh tân chủ yếu về luật pháp, và khi cần thiết thì bổ túc những canh tân ấy.
Mục I. Tòa án có thẩm quyền và các tòa án
Khoản 7
§ 1. Những thẩm quyền được nói đến ở đ. 1672 đều ngang nhau, miễn là vẫn hết sức duy trì nguyên tắc “gần gũi” giữa thẩm phán và các bên.
§ 2. Tuy nhiên, qua việc cộng tác giữa các tòa án theo tinh thần của đ. 1418, cần lo liệu để bất cứ bên nào hay nhân chứng đều có thể tham gia vụ án với lệ phí nhẹ nhất.
Khoản 8
§ 1. Trong các giáo phận không có tòa án riêng, Giám Mục phải lo liệu càng sớm càng tốt để đào tạo những nhân sự có khả năng làm việc trong tòa án được thiết lập cho những vụ án hôn nhân, kể cả qua những khóa đào tạo thường xuyên và liên tục, được cổ võ bởi các giáo phận hay liên giáo phận cũng như bởi Tòa Thánh trong tinh thần hiệp thông.
§ 2. Giám mục có thể rút lui khỏi tòa án liên giáo phận đã được thiết lập theo qui tắc của đ. 1423.
Mục II. Quyền kháng nghị hôn nhân
Khoản 9. Nếu người phối ngẫu chết đang trong thời gian tố tụng, trước khi vụ án ngã ngũ, thì vụ án bị đình hoãn cho đến khi người phối ngẫu kia hay một người khác có lợi ích liên quan yêu cầu tiếp tục; trong trường hợp này phải chứng minh lợi ích ấy là hợp pháp.
Mục III. Khởi đầu và thẩm tra vụ án
Khoản 10. Thẩm phán có thể nhận lời thỉnh cầu miệng mỗi khi các bên bị ngăn trở không đệ đơn được; tuy nhiên, thẩm phán phải truyền cho công chứng viên soạn thảo án từ trên giấy tờ, để đọc cho đương sự nghe và để đương sự chấp nhận, và án từ này thay thế cho đơn thỉnh cầu của đương sự xét về mọi hiệu lực pháp lý.
Khoản 11
§ 1 Đơn thỉnh cầu phải được đệ trình tòa án giáo phận hay tòa án liên giáo phận đã được chọn chiếu theo qui tắc của điều 1673§2.
§ 2. Được coi như không phản đối lời thỉnh cầu, khi thụ đơn để tùy cho tòa án xét xử hay, sau khi đã được triệu tập hợp thức lần thứ hai, mà không trả lời gì.
Mục IV. Bản án, kháng nghị và thi hành bản án
Khoản 12. Để đạt được sự xác tín luân lý cần thiết theo luật, thì sự trỗi vượt đáng kể của những chứng cớ và những dấu chỉ vẫn chưa đủ, mà còn phải hoàn toàn loại trừ bất cứ hoài nghi thận trọng tích cực nào là có thể sai lầm về luật cũng như về sự kiện, và phải loại trừ ngay cả chỉ đơn thuần hoài nghi là sự thật có thể trái ngược.
Khoản 13. Nếu một bên đã minh nhiên tuyên bố từ chối không nhận bất cứ thông tin nào liên quan đến vụ án, thì được hiểu là đã từ chối không nhận tờ sao bản án. Trong trường hợp này, có thể chỉ trao cho người ấy phần quyết định của bản án.
Mục V. Tố tụng hôn nhân ngắn gọn trước mặt giám mục
Khoản 14
§ 1. Trong số những trường hợp về sự việc và người có thể cho phép tiến hành vụ án tuyên bố hôn nhân bất thành qua tố tụng ngắn gọn theo các điều 1683-1687, có thể nêu lên chẳng hạn : người thiếu đức tin khiến có thể nảy sinh gian ý hay lầm lẫn chi phối ý chí, thời gian chung sống vợ chồng ngắn ngủi, phá thai có hiệu quả cốt để tránh không sinh con, ngoan cố duy trì một quan hệ ngoài hôn nhân trong thời gian kết hôn hay ngay sau đó, cố tình dấu diếm tình trạng vô sinh hay một bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng hay đã có con cái từ một quan hệ trước đó hay đã từng bị tù, kết hôn với động lực hoàn toàn xa lạ với đời sống vợ chồng hay kết hôn chủ yếu do người phụ nữ đã lỡ có thai trước, bạo lực thể lý để ép buộc bên kia ưng thuận, thiếu sử dụng trí khôn có giấy chứng nhận của bác sĩ, v.v…
§ 2. Trong số các văn kiện viện dẫn cho lời thỉnh cầu, có tất cả những tài liệu y khoa. Những tài liệu này có thể cho thấy rõ ràng không cần phải nhờ đến một giám định viên chính thức.
Khoản 15. Nếu đơn thỉnh cầu đã được đệ trình theo thủ tục tố tụng thông thường, nhưng vị Đại Diện tư pháp cho rằng vụ kiện có thể tiến hành theo thủ tục ngắn gọn hơn, thì khi thông báo nhận đơn chiếu theo quy tắc của điều 1676§1, vị Đại Diện Tư pháp phải yêu cầu bên thụ đơn đã không ký vào đơn cho tòa án biết là có muốn liên kết với thỉnh nguyện đã được đệ trình và có tham gia vào vụ án không. Mỗi khi cần thiết, vị đại diện tư pháp phải mời chính bên hoặc các bên đã ký vào đơn thỉnh cầu bổ túc hồ sơ càng sớm càng tốt chiếu theo quy tắc của đ. 1684.
Khoản 16. Vị Đại Diện tư pháp có thể tự chỉ định mình làm thẩm cứu viên ; nhưng tốt hơn nên chỉ định một thẩm cứu viên thuộc giáo phận gốc của vụ kiện.
Khoản 17. Khi ra sắc lệnh triệu tập chiếu theo đ. 1685, các bên phải được thông báo để, ít là ba ngày trước phiên họp thẩm vấn, họ có thể đệ trình những lý chứng mà dựa vào đó thẩm vấn các bên hay các nhân chứng, trừ khi những lý chứng này đã được đính kèm theo đơn thỉnh cầu.
Khoản 18
§ 1. Các bên và các luật sư của họ có thể tham dự cuộc thẩm vấn các bên kia và các nhân chứng, trừ khi vì những hoàn cảnh liên quan đến sự việc hay nhân sự, thẩm cứu viên xét là phải tiến hành cách khác.
§ 2. Các câu trả lời của các bên và của các nhân chứng phải được công chứng viên ghi lại bằng văn bản, nhưng một cách tóm tắt và chỉ ghi lại những gì liên quan chủ yếu đến chính vấn đề hôn nhân đang bàn cãi.
Khoản 19. Nếu vụ án được thẩm vấn tại một tòa án liên giáo phận, Giám Mục phải tuyên bố bản án là vị của nơi mà thẩm quyền được thiết lập theo tinh thần của đ. 1672. Nếu có nhiều vị, thì cố gắng hết sức duy trì nguyên tắc gần gũi giữa các bên và vị thẩm phán.
Khoản 20
§ 1. Giám Mục giáo phận phải ấn định cách thức tuyên bố bản án tùy theo sự khôn ngoan của mình.
§ 2. Bản án, do giám mục ký tên làm một cùng với công chứng viên, phải trình bày vắn tắt và mạch lạc những lý do dẫn đến quyết định, và thường phải được thông báo cho các bên trong thời hạn một tháng kể từ ngày ra quyết định.
Mục VI. Tố tụng dựa trên tài liệu
Khoản 21. Giám Mục giáo phận và vị Đại Diện Tư Pháp có thẩm quyền được xác định chiếu theo quy tắc của điều 1672.
 
[1] x. CĐ VATICANÔ II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 27.
[2] x. Bộ Giáo luật, đ. 1752.
[3] x. PHAOLÔ VI, Bài nói chuyện với các tham dự viên Hội Nghi Quốc Tế lần II về Giáo luật, 17.9.1973.
[4] x. Bản báo cáo của Thương Hội Đồng, số 48.
[5] x. PHANXICÔ, Tông Huấn Niềm vui của Tin Mừng, số 27, trong AAS 105 (2013), tr. 1031.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bài viết mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây