CẨM NANG: 1. NHỮNG NGUYÊN TẮC NỀN TẢNG CỦA HÔN NHÂN - JB. Lê Ngọc Dũng

Thứ năm - 09/03/2017 20:24
1. NHỮNG NGUYÊN TẮC NỀN TẢNG

1.1. Hôn nhân

 Do giao ước hôn nhân, một người nam và một người nữ tạo thành một sự hiệp thông trọn cả cuộc sống; tự bản chất, giao ước ấy hướng về thiện ích đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái (đ. 1055).

a- Sự thành lập hôn nhân: Kết ước

Hôn nhân được thành lập bởi một “kết ước” hay một “giao ước” (foedus) giữa một người nam và một người nữ. Sự kết ước này phải được thực hiện bởi sự "ưng thuận" của đôi bạn với ý chí tự do (đ. 1055§1).[1]
Giáo luật xác định đó là một kết ước giữa hai người khác phái, chứ không giữa hai người đồng phái (đ. 1055§1).
Sự kết ước này là vĩnh viễn, bất khả thu hồi, là hình ảnh hay là bí tích của Giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Hội Thánh (x. Ep 5,25-26).

b- Đối tượng hay nội dung của kết ước hôn nhân

Đôi bạn kết hôn là để thực hiện cuộc sống chung mà họ sẽ hiệp thông thân mật với nhau trọn cả cuộc sống. Công Đồng Vaticano II, diễn tả ý nghĩa nội dung hôn nhân là: "sự hiệp thông thân mật của đời sống và tình yêu (intima communitas vitae et amoris coniugalis)".[2]
Giáo hội xác nhận: “Tự bản chất, giao ước ấy hướng về thiện ích đôi bạn, cũng như đến việc sinh sản và giáo dục con cái”. Kiểu nói của Bộ luật 1917: hôn nhân có “mục đích” sinh sản hay trợ giúp lẫn nhau, như trong quá khứ vẫn dùng,[3] được sửa lại trong Bộ Giáo luật 1983 một cách đúng đắn hơn: hôn nhân “tự bản chất hướng đến…”. Sinh sản và giáo dục con cái, vì vậy, phát sinh do tự bản chất hôn nhân chứ không từ mục đích riêng của con người.

c- Tình yêu trong hôn nhân

Công Đồng Vaticano II xác định yếu tố "tình yêu" trong đời sống hôn nhân: "sự hiệp thông thân mật của đời sống và tình yêu".[4]
"Tình yêu" là yếu tính của sự kết hợp nam nữ trong hôn nhân. Tuy nhiên, chữ "tình yêu" đã không được đưa vào khoản luật để xác định sự thành lập hôn nhân, vì tình yêu là yếu tố tâm lý khó mà xác định được trong phạm vi pháp lý. Giáo luật xác định sự thành lập hôn nhân bằng sự "kết ước" (foedus) công, mang tính pháp lý, với ý chí tự do của mỗi người.
Hôn nhân vẫn được thành lập hữu hiệu dù thiếu vắng tình yêu. Nói cách khác, không có tình yêu, hôn nhân vẫn được kết ước thành sự về mặt pháp lý.
Tuy nhiên, Giáo luật vẫn trung thành với ý nghĩa của hôn nhân mà Công Đồng Vaticano II diễn tả, đã dùng những từ ngữ hàm chứa yếu tố tình yêu. Một trong những thuật ngữ đáng chú ý là "totius vitae consortium" đã được đưa vào trong chính khoản luật có tính định nghĩa hôn nhân.
Chữ consortium được cấu tạo bởi hai chữ: con = cùng, sors = vận mệnh. Cụm từ "totius vitae consortium" được dịch trong bản Việt ngữ của điều 1055§1: "sự hiệp thông trọn cả cuộc sống" cũng chưa diễn tả đủ, vì chưa nói lên được sự chung chia cả vận mệnh hay sự đồng số phận của đôi bạn.

d- Thiện ích hôn nhân, bonum coniugum

Thiện ích hôn nhân, bonum coniugum, là một khái niệm tương đối mới, thêm vào ba thiện ích hay điều "tốt" (bonum) của hôn nhân theo Thánh Augustino vốn đã được đón nhận trong giáo thuyết truyền thống. Ba điều thiện ích ấy được kể là:
Bonum prolis: thiện ích con cái. Hôn nhân tự bản chất hướng đến sinh sản và giáo dục con cái.
Bonum sacramentum: thiện ích bí tích. Hôn nhân là dấu hiệu, là bí tích, của sự thánh thiện và sự kết hợp yêu thương vững bền, bất khả phân ly, giữa Đức Kitô và Hội Thánh (x. Ep 5,25-26).
Bonum fidei: thiện ích của sự trung thành, chung thủy, một vợ một chồng.
Thiện ích thứ tư, Bonum coniugum: thiện ích đôi bạn, đặt trên cơ sở đôi bạn kết ước hôn nhân sẽ "trao ban cho nhau chính bản thân mình". Đôi bạn sẽ yêu thương, hy sinh cho nhau, để xây dựng hạnh phúc gia đình.

e- Quyền trên thân xác, ius in corpus

Đã có sự tiến bộ lớn trong cái nhìn về bản chất của hôn nhân trong giáo thuyết Công giáo. Đối tượng kết ước của hôn nhân không còn được xác định như là một sự trao ban cho nhau về "quyền trên thân xác" (ius in corpus) một cách tuyệt đối và vĩnh viễn, hướng đến việc sinh sản con cái.[5] Hôn nhân cũng không còn được coi như có mục đích đệ nhị là "trợ giúp lẫn nhau và phương thuốc chữa trị tình dục" (mutuum adiutorium et remedium concupiscentiae), như bộ Giáo luật cũ 1917 diễn tả.[6]
Khái niệm “tình yêu hôn nhân” mà tình dục là một yếu tố thuộc bản chất chỉ mới được nhận ra vào khoảng đầu bán thế kỷ 20, và được Công đồng Vaticano II xác nhận. Ý tưởng "Quyền trên thân xác" được chuyển dịch sang cách hiểu nhân vị hơn, là yêu thương “trao ban và lãnh nhận nhau chính bản thân mình” - “sese mutuo tradunt et accipiunt” (đ. 1057§2). Vợ hay chồng thực hiện nghĩa vụ trao ban cho nhau một cách tự nguyện, chứ không bó buộc lẫn nhau về quyền trên thân xác.

f- Sự hà tỳ ưng thuận do kết hôn giả hình, simulatio

Án lý tòa án hôn phối, căn cứ trên điều 1055§1 về bản chất của hôn nhân để xác nhận hôn nhân vô hiệu trong những trường hợp kết ước hôn nhân, khi một bên kết ước có ý muốn loại trừ hoặc coi thường "thiện ích hôn nhân" (bonum coniugum), "thiện ích con cái" (bonum prolis), "thiện ích chung thủy đơn nhất" (bonum fidei), hoặc "thiện ích bất khả phân ly" (bonum sacramentum), như điều 1101§2 xác định: nếu “loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân. thì họ kết hôn với nhau bất thành".
Sự loại trừ “thiện ích hôn nhân” (bonum coniugum) trong thực tế cuộc sống, thường biểu hiện những hành vi như: coi vợ như nô lệ; kết hôn vì mục đích xa lạ, như chỉ để thỏa mãn tình dục, lợi dụng tài sản, quyền lực, lạc thú… hoặc ngay cả chỉ để có con cái mà coi người bạn đời hay chính hôn nhân như là phương tiện.
Loại trừ “thiện ích con cái” (bonum prolis) thể hiện ở sự không muốn sinh con hoặc không muốn chu toàn nhiệm vụ nuôi dưỡng giáo dục con cái.

1.2. Bí tích hôn nhân

Chúa Kitô nâng giao ước hôn nhân giữa hai người được Rửa tội lên phẩm hàm bí tích (đ. 1055§1).

a- Phẩm hàm bí tích

Hôn nhân là một cơ cấu tự nhiên do Thiên Chúa thiết lập và nhờ Đức Kitô nâng lên phẩm hàm bí tích (to the dignity of a sacrament), tức lên hàng thánh thiện, được thông phần dồi dào ân sủng. Trong hôn nhân, bí tích là một phẩm giá thánh thiện đặc biệt, nhưng không là yếu tính hay bản chất của hôn nhân hiểu theo tự nhiên.
Hôn nhân Công giáo, giữa hai người được Rửa tội (Vd. Hôn nhân  giữa hai người Công giáo – Công giáo, Công giáo – Tin lành),  đương nhiên mang phẩm hàm bí tích, như điều 1055§2 xác định: hôn nhân “giữa hai người đã được Rửa tội không thể có khế ước hôn nhân thành sự, nếu đồng thời không phải là bí tích hôn  nhân”.
Tuy nhiên “hôn nhân khác đạo”, trong đó có một bên không lãnh nhận bí tích Rửa tội, thì không là hôn nhân bí tích. Hôn nhân khác đạo này, xét theo bản chất, vẫn là một hôn nhân Công giáo. Và như vậy, bí tích như là một phẩm giá thánh thiêng của ân sủng, ban thêm vào bản chất hôn nhân.
Vì vậy, không nên hiểu rằng: bất cứ hôn nhân nào không là bí tích thì không phải là hôn nhân thật sự. Giáo hội nhìn nhận là thành sự, những hôn nhân mà không có phẩm tính bí tích, như hôn nhân khác đạo, hôn nhân giữa hai người lương. Những hôn nhân này vẫn thật sự là hôn nhân cùng với những đặc tính đơn nhất và bất khả phân ly. Và theo giáo thuyết Công giáo, những hôn nhân không bí tích này vẫn tạo thành dây hôn phối, làm ngăn trở tiêu hôn đối với hôn nhân kế tiếp.

b- Bí tích Hôn phối và Thánh Lễ

Phẩm hàm bí tích của hôn nhân không tùy thuộc vào việc cử hành trong hay ngoài Thánh Lễ, nhưng tùy thuộc vào sự kiện Rửa tội của hai người kết hôn. Hôn nhân giữa hai người được Rửa tội, cho dù ngoài Thánh Lễ vẫn là hôn nhân bí tích. Tất nhiên, khi được cử hành trong Thánh Lễ, hôn nhân được tăng phần thánh thiện, đón nhận được nhiều ân sủng hơn.
Điều trên được thấy rõ trong trường hợp nguy tử, hôn nhân có thể cử hành mà không có linh mục chứng hôn. Tuy chỉ có hai giáo dân làm chứng cho sự ưng thuận kết hôn ngoài Thánh Lễ giữa hai người được Rửa tội, hôn nhân vẫn thành sự và đồng thời vẫn là bí tích (đ. 1116§1). Ngoài ra, hôn nhân với "phép giao" của hai người được Rửa tội, ngoài Thánh Lễ, vẫn là hôn nhân bí tích.

c- Phép giao là gì?

"Phép giao", theo ngôn ngữ thông thường ở Việt Nam, được dùng để chỉ một cử hành kết hôn ngoài Thánh Lễ. Phép giao thật sự là một cử hành kết ước hôn nhân, làm cho hai người nam nữ để trở nên vợ chồng theo Giáo luật. Đôi bạn chỉ có thể thiếu vắng phần thánh thiện hay ân sủng phát sinh từ Thánh Lễ, vì cử hành ngoài Thánh Lễ.
Một hôn nhân cử hành theo "phép giao" cũng có thể là bí tích hay không là bí tích, vì phẩm hàm bí tích tùy thuộc vào bí tích Rửa tội của đôi bạn kết hôn đã lãnh nhận, không tùy thuộc vào việc kết hôn trong hay ngoài Thánh Lễ.

d- Kết hôn “tự nhiên” hay kết hôn “theo luật lệ”

Những kết hôn ngoài phạm vi chi phối của Giáo luật, ví dụ như hôn nhân dân sự giữa hai người lương, hay tôn giáo, giữa hai người Tin lành, nên được gọi là hôn nhân "theo luật lệ", vì hôn nhân này được thành lập theo những thủ tục hay nghi thức quy định bởi luật hay lệ dân sự của quốc gia hay tôn giáo.
Đôi khi hôn nhân này được gọi là hôn nhân “tự nhiên". Gọi như vậy cho dễ hiểu, thật ra cũng không đúng, vì nếu hiểu "tự nhiên" là tính chất của những điều Thiên Chúa tạo dựng, khác với "nhân tạo", thì một hôn nhân Công giáo cũng là một hôn nhân tự nhiên.
Giáo hội công nhận giá trị dây hôn phối của hôn nhân theo luật lệ ngoài Công giáo. Vì vậy kết hôn giữa hai người lương, cho dù họ đã ly dị, vẫn gây ngăn trở tiêu hôn cho hôn nhân sau đó với người Công giáo.
Nhiều tín hữu vẫn hay lầm tưởng rằng một người lương, khi đã ly dị rồi thì được thong dong kết hôn với người Công giáo. Khi điều tra hôn phối, cha sở nên để ý đến điều này. Người lương ấy chỉ có thể kết hôn với đặc ân Thánh Phaolô.

e- Theo đạo sau kết hôn

Vì Giáo hội công nhận giá trị dây hôn phối của hôn nhân theo luật lệ ngoài Công giáo, nghĩa là, đôi bạn khi kết hôn như vậy thì họ đã trở thành “vợ chồng” với nhau thật sự. Một khi họ đã là “vợ chồng” rồi, thì sau đó, không có lý do gì mà phải hay được phép cử hành kết hôn một lần nữa. Quả là sai lạc khi cho cử hành nghi thức kết hôn lần nữa; vì nếu cho, ta đã hiểu sai rằng hôn nhân trước, ngoài Công giáo đó, đã không thành sự và không có giá trị suốt đời.
Vì vậy, không được xin miễn chuẩn hôn nhân khác đạo cho họ.[7]
Nếu cả hai họ trở lại đạo thì hôn nhân trước đây của họ không là bí tích sẽ tự động được nâng lên phẩm hàm bí tích. Nếu chỉ một người trong họ theo đạo, thì hôn nhân không được nâng lên phẩm hàm bí tích.

1.3. Đặc tính chính yếu


Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là sự đơn nhất và bất khả phân ly. Những đặc tính này có một sự vững bền đặc biệt trong hôn nhân Kitô giáo, vì lý do bí tích (đ. 1056).
Hai đặc tính chính yếu của hôn nhân là đơn nhất - một vợ một chồng, và bất khả phân ly - không thể ly dị. Những đặc tính này không chỉ có ở hôn nhân bí tích mà còn ở cả hôn nhân không bí tích.
Tuy nhiên, đối với hôn nhân bí tích thì những đặc tính này có sự vững bền đặc biệt, không thể được tháo gỡ bởi một quyền lực nhân loại nào, ngay cả Đức Giáo Hoàng. Hôn nhân không là bí tích có thể được tháo gỡ nhờ bởi những đặc ân, như đặc ân Thánh Phaolô (đ. 1143), đặc ân thánh Phêrô (đ. 1148, 1490), đặc ân Đức Tin.[8]
Theo giáo thuyết Giáo hội Công giáo, mọi hôn nhân thành sự, cho dù là hôn nhân ngoài Công giáo, như hôn nhân giữa hai người lương, vẫn mang những đặc tính chính yếu là đơn nhất và bất khả phân ly. Vì vậy, một kết hôn hữu hiệu theo luật lệ dân sự hay tôn giáo khác, cho dù đôi bạn đã ly dị ở tòa án dân sự, dây hôn phối vẫn còn và gây ngăn trở tiêu hôn cho hôn nhân sau với người Công giáo.

1.4. Sự ưng thuận

Chính sự ưng thuận của đôi bên được biểu lộ cách hợp pháp giữa những người có năng cách pháp lý làm nên hôn nhân và không một quyền lực nào của loài người có thể thay thế được sự ưng thuận ấy (đ. 1057§1).

a- Yếu tố chính yếu của kết ước hôn nhân

Điều 1057§1 nêu trên cho thấy có ba yếu tố làm nên kết ước hôn nhân:
1- Sự “ưng thuận”;
2- Sự “ưng thuận” phải được thực hiện bởi người có năng cách pháp lý;
3- Sự “ưng thuận” phải được biểu lộ hợp pháp.
Yếu tố chính yếu của hôn nhân là sự “ưng thuận”, nhưng sự ưng thuận này phải được thực hiện bởi những người có năng cách pháp lý và phải được biểu lộ qua những nghi thức được luật hay lệ quy định. Thiếu một trong ba yếu tố nói trên, hôn nhân không được thành lập, nghĩa là hôn nhân không hữu hiệu hay vô hiệu.

b- Sự hữu hiệu của "ưng thuận" kết hôn

Sự "ưng thuận" là hành vi của ý chí tự do, nhờ đó hai người nam nữ trao ban và lãnh nhận nhau qua một giao ước bất khả thu hồi để làm nên hôn nhân (đ. 1057§2).
Sự ưng thuận kết hôn được công nhận hữu hiệu dựa theo những nghi thức biểu lộ ra bên ngoài (lời thề ước, cử chỉ nắm tay, trao nhẫn…) một cách chính thức, nghĩa là được biểu lộ bằng những thể thức theo luật lệ dân sự hay tôn giáo quy định.
Một khi việc kết hôn được cử hành theo một trong những thể thức công, hôn nhân thành sự. Nếu có hồ nghi, vẫn coi là thành sự: "Hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân vẫn được coi là thành sự cho đến khi có chứng cớ ngược lại" (đ. 1060).
Khi hôn nhân bị vô hiệu được chứng minh rõ ràng, như hôn nhân có ngăn trở tiêu hôn hay do thiếu thể thức, hôn nhân vẫn có thể được thành sự hóa nếu đôi bạn muốn tiếp tục duy trì hôn nhân. Nếu họ muốn huỷ bỏ hôn nhân, phải có sự xác nhận hôn nhân vô hiệu bởi giáo quyền. Ngoại trừ một vài trường hợp quá rõ ràng hôn nhân là vô hiệu do có ngăn trở tiêu hôn như ngăn trở dây hôn phối, hay do thiếu thể thức giáo luật, các xác nhận hôn nhân vô hiệu của giáo quyền, phải được thực hiện qua một tiến trình thủ tục của tòa án hôn phối giáo phận.

c- Sự ưng thuận được biểu lộ theo thể thức hợp pháp

Nói chung trong cả phạm vi đạo và đời, sự ưng thuận kết hôn, phải được biểu lộ hợp pháp, tức là phải biểu lộ theo một thể thức hay nghi thức “công” (public), nghĩa là, thể thức hay nghi thức đó phải theo luật hay lệ quy định, mới được công nhận là hữu hiệu.
Trong Công giáo, Giáo luật quy định thể thức kết hôn, gọi là thể thức Giáo luật (forma canonica), được tóm tắt như sau: Hai người nam nữ biểu lộ sự ưng thuận kết hôn trước mặt vị chứng hôn là linh mục hay phó tế có năng quyền và hai nhân chứng (đ. 1108§1).
Kết ước hôn nhân ngoài Công giáo có thể được thực hiện theo nhiều thể thức khác nhau, nhưng phải là “thể thức công” (public), chứ không phải là tư (private), mới được coi là thành sự.
Nói rõ hơn, những nghi thức cử hành "công", tức là những nghi thức được công nhận hay được hình thành theo luật hay lệ của một xã hội, như là theo luật của quốc gia, tôn giáo, dân tộc hay bộ tộc hoặc theo thể thức của phong tục truyền thống (lệ).
Kết ước hôn nhân theo thể thức "tư" (private), có nghĩa là, kết ước không theo luật hay lệ nào cả. Kết ước tư thì không tạo nên một hôn nhân hữu hiệu, không được công nhận bởi xã hội dân sự.
Cần phân biệt giữa kết hôn theo thể thức “công” hay “tư” được nêu trên, để xác định một người ngoài Công giáo đã có dây hôn phối chưa, nghĩa là, xác định họ có mắc ngăn trở dây hôn phối hay không.
Ở Việt Nam, kết hôn giữa hai người ngoài Công giáo theo một trong những hình thức kết ước như sau, được coi là công, cũng đủ thành sự và tạo thành dây hôn phối, làm ngăn trở tiêu hôn cho hôn nhân kế tiếp:
- Đăng ký kết hôn ở cơ quan chính quyền và đã được chính quyền công nhận, theo luật quốc gia;
- Kết ước thành vợ chồng trước mặt cha mẹ hai bên theo phong tục tập quán;
- Kết ước thành vợ chồng trước bàn thờ tổ tiên với sự chứng giám của bà con họ hàng theo phong tục tập quán.
Khi đã cử hành chỉ một trong những hình thức kết ước hôn nhân công như trên, thì hôn nhân cũng đủ thành sự. Vì vậy, người đã đăng ký kết hôn ở cơ quan chính quyền và khi đã được chính quyền công nhận họ đã thành vợ chồng rồi, thì đủ để xác định người này đã có dây hôn phối, cho dù sau đó họ không có thực hiện nghi thức kết hôn theo truyền thống khác hay không có làm đám cưới.
Nếu tín hữu muốn tiêu hủy hôn ước này, với lý do là chỉ làm giấy tờ theo hình thức pháp luật để đối phó với hoàn cảnh xã hội (kết hôn giả để được bảo lãnh…) thì phải có sự xác nhận hôn nhân là vô hiệu bởi tòa án hôn phối giáo phận; cha sở không đủ thẩm quyền xác nhận rằng họ chưa mắc ngăn trở dây hôn phối.[9]
Trong thực tế, trong tiến trình thủ tục chuẩn bị cho người người ngoài Công giáo được kết hôn với người Công giáo, phải xác định dây hôn phối, là đã có hay không, của người lương đó. Nếu người lương đã có một cuộc sống chung mà không có cử hành một nghi thức kết hôn nào, thì dây hôn phối chưa được thành lập. Tuy nhiên, nếu có hồ nghi về sự hữu hiệu của hình thức kết hôn nào đó, thì cần điều tra kỹ lưỡng.
Tóm lại, để xét định sự hữu hiệu của một hôn nhân ngoài Công giáo, cần xét đến thể thức cử hành kết hôn của họ. Thể thức đó phải là thể thức "công" hay không (xem ở trên).[10] Khi đã kết hôn theo chỉ một thể thức công nào đó thì cũng đã đủ tạo thành dây hôn phối, cho dù họ không có hay chưa có kết hôn theo luật quốc gia. Khi có hồ nghi, nên hỏi ý kiến của nhà chức trách có thẩm quyền, trước khi cho kết hôn, theo quy tắc của điều 1085§2:
Dù hôn nhân trước bất thành hoặc được tháo gỡ vì bất cứ lý do nào, thì không vì đó mà được phép kết hôn lần nữa, trước khi thấy rõ cách hợp thức và chắc chắn rằng hôn nhân trước đã bất thành hoặc đã được tháo gỡ (đ. 1085§2).

 d- Có năng cách pháp lý

Có năng cách pháp lý để kết hôn có nghĩa là có đủ những tư cách mà Giáo luật quy định để có thể kết hôn thành sự.[11] Mười hai ngăn trở tiêu hôn, được Giáo luật quy định, nếu mắc phải, được coi là không có năng cách pháp lý để kết hôn hữu hiệu.
Nên lưu ý rằng, ngoài những ngăn trở tiêu hôn, còn có những luật ngăn cản hay cấm kết hôn. Nếu vi phạm những luật ngăn cản hay cấm kết hôn này, hôn nhân bị bất hợp luật, nhưng vẫn hữu hiệu.

e- Hôn nhân chưa hoàn hợp


Hôn nhân thành sự giữa hai người đã được Rửa tội mới chỉ là hôn nhân thành nhận, nếu chưa có sự hoàn hợp; hôn nhân được gọi là thành nhận và hoàn hợp, nếu hai người phối ngẫu đã thực hiện hành vi vợ chồng với nhau theo cách thức hợp với nhân tính, mà hành vi này tự nó có khả năng dẫn tới sinh sản là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và do hành vi đó mà hai vợ chồng trở nên một xương một thịt (đ. 1061§1).
Hôn nhân, theo bộ luật 1983, được xác định là hoàn hợp khi đôi bạn đã thực hiện hành vi giao hợp vợ chồng “trong cách thức hợp nhân tính" (in umano modo). Hành vi kết hợp vợ chồng này, vì vậy, phải được thực hiện trong ý thức và tự do ưng thuận. Đây là điều mới trong khái niệm về sự hoàn hợp hôn nhân. Trong luật cũ, sự hoàn hợp chỉ xét theo phương diện thể lý.
Theo luật mới, sự hoàn hợp phải xét đến cả phần tâm lý. Nếu hành vi kết hợp vợ chồng được thực hiện với cưỡng ép thể lý hay cưỡng ép tâm lý hoặc dưới sự mê man, thì hôn nhân vẫn được coi là chưa hoàn hợp.
Hôn nhân chưa hoàn hợp có thể được tháo gỡ bởi Đức Giáo Hoàng, mặc dù người kia không bằng lòng tháo gỡ:
Hôn nhân chưa hoàn hợp giữa những người đã được Rửa tội hay giữa một người đã được Rửa tội và một không được Rửa tội, có thể được Đức Giáo Hoàng Rôma tháo gỡ vì một lý do chính đáng, do lời thỉnh cầu của cả hai người hoặc của một người mà thôi, mặc dầu người kia không bằng lòng (đ. 1142).
Sau khi đã cử hành hôn nhân, nếu đôi bạn đã sống chung với nhau, thì hôn nhân được suy đoán là đã hoàn hợp cho đến khi có chứng cớ ngược lại (đ. 1061§2).

1.5. Quyền kết hôn

 Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn (đ.1058).
Giáo luật xác nhận: mọi người đều có quyền tự nhiên để kết hôn. Quyền này được xác nhận dựa trên bản chất xã hội của con người; và phải hòa hợp với lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, việc kết hôn chịu chi phối bởi luật dân sự và tôn giáo.
Riêng về Giáo hội Công giáo, Giáo luật đưa ra những quy định ngăn cản hay cấm kết hôn, được kể như sau:
- Ngăn trở tiêu hôn (đ. 1083-1094): Khi bị mắc ngăn trở tiêu hôn thì kết hôn vô hiệu. Một số ngăn trở tiêu hôn có thể được miễn chuẩn, ví dụ như ngăn trở hôn nhân khác đạo, hôn nhân đang mắc lời khấn dòng. Một số ngăn trở khác, như ngăn trở dây hôn phối, thì không thể được miễn chuẩn. Vì vậy, hôn nhân bị cấm cử hành khi mắc những ngăn trở này.
- Buộc phải có phép để kết hôn (đ. 1071): Một số trường hợp Giáo hội đòi buộc phải có phép của Đấng Bản quyền mới có thể kết hôn. Ví dụ, kết hôn hỗn hợp giữa người Công giáo và Tin lành, chưa đủ tuổi kết hôn (theo luật dân sự)…  nếu không xin phép Đấng Bản quyền thì việc kết hôn bất hợp luật nhưng vẫn thành sự.
- Giáo quyền cấm kết hôn: Đấng Bản quyền có thể cấm kết hôn trong vài trường hợp riêng biệt, có giới hạn trong một thời gian khi lý do nghiêm trọng còn tồn tại (đ. 1077§1).
Cha sở không có quyền cấm kết hôn, cho dù trong một thời gian.
Mặc dù mọi người đều có quyền tự nhiên để kết hôn, nhưng cha sở có thể trì hoãn việc kết hôn, để điều tra, chu toàn trách vụ, theo quy tắc của Giáo luật: "Trước khi cử hành bí tích Hôn nhân phải biết chắc không có gì cản trở việc cử hành bí tích thành sự và hợp pháp" (đ. 1066).

1.6. Giáo luật chi phối

Hôn nhân của những người Công giáo, cho dù chỉ có một bên là Công giáo, bị chi phối không những bởi luật Chúa mà còn bởi luật Giáo hội nữa (đ. 1059).

a- Ý nghĩa

Bị chi phối bởi luật, tức là bị luật tác động hay bị buộc phải tuân giữ luật.
Hôn nhân, nếu có một bên là người Công giáo thì bị chi phối bởi Giáo luật (đ.1059). Những luật chi phối tín hữu kết hôn chính yếu là những quy định về ngăn trở tiêu hôn, cấm hôn và việc cử hành kết hôn theo thể thức Giáo luật.
Ví dụ:
- Kết ước hôn nhân giữa một người Công giáo với người lương, bị luật quy định là có ngăn trở tiêu hôn, nếu không được Đấng Bản quyền miễn chuẩn ngăn trở này, thì việc kết hôn vô hiệu.
- Kết hôn khác đạo phải được thực hiện theo thể thức Giáo luật, nếu không, hôn nhân cũng vô hiệu, cho dù họ có kết hôn theo thể thức dân sự.

b- Nhìn nhận về hôn nhân ngoài Công giáo

Hôn nhân của hai người ngoài Công giáo, ví dụ như hôn nhân của hai người lương, hay của hai người thuộc tôn giáo khác, nghĩa là, không ai trong đôi bạn là người Công Giáo, thì không bị chi phối bởi Giáo luật, nên không bị buộc phải cử hành thể thức Giáo luật để thành sự.
Theo nguyên tắc chung, Giáo hội công nhận là thành sự, các hôn nhân ngoài Công giáo đó, nếu đã được cử hành theo nghi thức của luật dân sự hay tôn giáo khác. Những hôn nhân này vẫn tạo thành dây hôn phối bất khả đoạn tiêu và gây ngăn trở tiêu hôn cho hôn nhân sau đó với người Công giáo.
Trong trường hợp, một hay cả hai người lương của một đôi vợ chồng ngoài Công giáo, nay lại muốn theo đạo, cha sở không được làm thêm một nghi thức kết hôn nào nữa cho họ, vì họ đã thực sự đã trở nên vợ chồng rồi.
 
[1] Trong tập sách này, ký hiệu viết tắc “đ.” biểu trưng cho điều khoản luật của Bộ Giáo Luật 1983, được dùng để quy chiếu chung cho trực tiếp (đ. …) hay gián tiếp (x.đ. … – xem điều…) vào điều khoản Giáo luật.
[2] Gaudium et Spes, 48.
[3] x. điều 1081§ 2; 1013. § 1 của bộ luật 1917: "Matrimonii finis primarius est procreatio atque educatio prolis; secundarius mutuum, adiutorium et remedium concupiscentiae".
[4] Gaudium et Spes, 48.
[5] x. Bộ luật 1917, đ.1081§ 2.
[6] x. điều 1081§ 2; 1013. § 1 của bộ luật 1917: "Matrimonii finis primarius est procreatio atque educatio prolis; secundarius mutuum, adiutorium et remedium concupiscentiae".
 
[7] Việc xin miễn chuẩn là để cử hành một hôn nhân hữu hiệu khi có ngăn trở. Hôn nhân của hai người lương đã hữu hiệu rồi nên không được cử hành và cũng không xin miễn chuẩn nữa. Chỉ cử hành hôn nhân Công giáo khi hôn nhân của hai người lương trước đây là không hữu hiệu, do thiếu thể thức dân sự, tôn giáo, hay có ngăn trở tiêu hôn theo luật tự nhiên.
[8] Đặc ân đức tin theo nghĩa rộng thì bao gồm cả ba: đặc ân Thánh Phaolô (đ. 1143), đặc ân thánh Phêrô (đ. 1148, 1490), đặc ân Đức Tin.  Đặc ân Đức Tin, theo nghĩa hẹp, đôi khi cũng được gọi là đặc ân Thánh Phêrô nhưng Tòa Thánh chính thức gọi là đặc ân Đức Tin (x. huấn thị Potestas Ecclesiae của Bộ giáo lý Đức Tin, ban hành tại Rôma ngày 30/4/2001). 
.
[9] Tòa án giáo phận thường sẽ xúc tiến xét xử như một vụ án vô hiệu hôn phối với những thủ tục cần thiết.
[10] Xem thêm điều 781 của bộ luật 1991 của Công giáo Đông Phương.
[11] Quy định về năng cách pháp lý theo Giáo hội Công giáo có thể rất khác so với quy định nơi những tôn giáo khác hoặc nơi luật dân sự.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bài viết mới
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây