ĐỀ MỤC 6: BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH (1008 - 1054)

ĐỀ MỤC 6: BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH (Điều 1008 - 1054)

Điều 1008

Do bí tích Truyền Chức Thánh đã được Thiên Chúa thiết lập, một số Kitô hữu được đặt làm thừa tác viên có chức thánh, nhờ được ghi ấn tích không thể xóa nhòa, như thế họ được thánh hiến và được chỉ định, mỗi người tùy theo cấp bậc của mình, để chăn dắt đoàn dân Chúa, bằng cách chu toàn các nhiệm vụ giáo huấn, thánh hóa và lãnh đạo và lãnh đạo nhân danh Đức Kitô là Đầu.

Điều 1009

#1. Các chức thánh là chức Giám Mục, chức linh mục và chức phó tế.

#2. Những chức ấy được trao ban bằng việc đặt tay và bằng việc đọc lời nguyện thánh hiến đã được các sách phụng vụ quy định cho mỗi cấp bậc.

CHƯƠNG 1: VIỆC CỬ HÀNH VÀ THỪA TÁC VIÊN LỄ TRUYỀN CHỨC

Phải cử hành bí tích Truyền Chức trong Thánh Lễ ngày Chúa Nhật hay một ngày lễ buộc, nhưng vì lý do mục vụ có thể cử hành vào nhũng ngày khác, kể cả những ngày thường trong tuần.

Điều 1011

#1. Cách chung, lễ truyền chức phải được cử hành trong nhà thờ chính tòa; nhưng vì lý do mục vụ có thể được cử hành trong một nhà thờ hoặc một nhà nguyện khác.

#2.Phải mời các giáo sĩ và các Kitô hữu khác tham dự lễ truyền chức để buổi lễ có thật đông người tham dự.

Điều 1012

Thừa tác viên của bí tích Truyền Chức Thánh là Giám Mục đã được tấn phong.

Điều 1013

Không Giám Mục nào được phép tấn phong Giám Mục cho ai, nếu trước đó chưa có ủy nhiệm thư của Đức Giáo Hoàng.

Điều 1014

Trừ khi được Tông Tòa miễn chuẩn, trong lễ tấn phong  Giám Mục, Giám Mục chủ phong phải có thêm ít là hai Giám Mục phụ phong khác, tuy nhiên, cùng với các vị ấy, tất cả các Giám mucï hiện diện cũng nên tấn phong người được tuyển chọn.

Điều 1015

#1. Mỗi tiến chức linh mục và mỗi tiến chức phó tế phải được chính Giám Mục của mình truyền chức, hoặc phải có thư giới thiệu hợp thức của ngài.

#2. Chính Giám Mục riêng phải đích thân truyền chức cho nhũng người thuộc quyền mình, nếu ngài không bị một ngăn trở chính đáng; nhưng ngài không thể truyền chức cách hợp thức cho một người thuộc quyền nhưng lại theo nghi lễ Đông Phương, nếu không có một đặc ân của Tòa Thánh.

#3. Vị nào có thể cấp thư giới thiệu để chịu các chức thánh, thì vị ấy cũng có thể đích thân ban các chức ấy, nếu có ấn tích Giám Mục.

Điều 1016

Về việc truyền chức phó tế cho những người muốn gia nhập hàng giáo sĩ triều. Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức có cư sở hoặc Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức đã quyết định dấn thân phục vụ; về việc truyền chức linh mục cho các giáo sĩ triều. Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức quyết định dấn thân phục vụ; về việc truyền chức linh mục cho các giáo sĩ triều. Giám Mục riêng là Giám Mục giáo phận tại nơi tiến chức đã nhập tịch khi chịu chức phó tế.

Điều 1017

Bất cứ một Giám Mục nào cũng không thể ban bí tích Truyền Chức ngoài quyền hạn của mình, nếu không có phép của Giám mục giáo phận.

Điều 1018

#1.Các vị sau đâycó thể cấp thư giới thiệu cho các giáo sĩ triều

10Giám Mụcriêng được nói đến ở điều 1016.

20Giám Quản tông toà, cũngnhư Giám Quản giáo phận với sự chấp thuận của của ban tư vấn, Quyền Đại Diện và Quyền Phủ Doãn tông toà, với sự chấp thuận của hội đồng được nói đến ở điều 495#2.

#2. Giám Quản giáo phận Quyền Đại Diện và Quyền Phủ Doãn tông toà không được cấp thư giới thiệu cho những người đã bị Giám Mục giáo phận hay Đại Diện hay Phủ Doãn tông toà từ chối không cho tiến chức.

Điều 1019

Bề Trên cấp cao của hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng, hoặc của một tu đoàn tông đồ giáo sĩ thuật luật giáo hoàng cấp thư giới thiệu để chịu chức phó tế và chức linh mục cho những người thuộc quyền mình đã được gia nhập vào hội dòng hay tu đoàn cách vĩnh viễn hoặc dứt khoát theo hiến pháp.

#2. Việc truyền chức cho tất cả những thành viên khác thuộc bất cứ hội dòng hoặc tu đoàn nào được chi phối bởi luật dành cho các giáo sĩ triều, mọi đặc ân đã được ban cho các Bề Trên đều bị thu hồi.

Điều 1020

Không được cấp thư giới thiệu, nếu trước đó không có tất cả các chứng thư và văn kiện mà luật buộc phải có chiếu theo quy tắc của các điều 1050 và 1051.

Điều 1021

Có thể gửi thư giới thiệu đến bất cứ Giám mục nào hiệp thông với Tông Toà, nhưng không được gửi đến một Giám Mục nào thuộc lễ điển khác với lễ điển của người tiến chức,nếu không có một đặc ân của Toà Thánh.

Điều 1022

Một khi đã nhận được thư  giới thiệu chính thức, nếu không hoàn toàn chắc chắn về tính xác thực của thư ấy.

Điều 1023

Các thư giới thiệu có thể bị giới hạn hoặc bị thu hồi do vị đã ban cấp hoặc do người kế vị, nhưng một khi đã được ban cấp, thư giơ1i thiệu không mất hiệu lực khi vị ban cấp hết quyền.

CHƯƠNG 2: NHỮNG NGƯỜI LÃNH NHẬN CHỨC THÁNH

Điều  1024

Chỉ có người nam đã được Rửa Tội mới nhận lãnh thành sự bí tích Truyền Chức Thánh.

 Điều 1025

#1. Để trao ban chức linh mục hay chức phó tế cách thức, sau khi đã trải qua thời gian thử thách chiếu theo quy tắc  cuả luật  ứng viên buộc phải hội  đủ những đức tính thích hợp, theo sự nhận định của Giám Mục  riêng hay của Bề Trên cấp cao  có thẩm quyền không bị một điều bất hợp  luật hay một ngăn trở nào rào buộc, và phải chu toàn các điều kiện tiên quyết chiếu theo quy tắc của các điều 1033-1039; ngoài ra, còn phải thu thập các văn kiện  được nói đến ỏ điều 1050và phải thực hiện việc điều tra  được dự liệu ở điều 1051.

#2. Hơn nữa ứng viên phải được Bề Trên hợp pháp của mình  nhận định là hữu ích  cho thừa tác vụ của Giáo Hội .

#3. Giám mục truyền chức cho một thuộc quyền mình phục vụ một giáo phận khác, thì phải chắc chắn là người  nhận lãnh chúc thánh  sẽ gia nhập giáo phận ấy.

TIẾT 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN BUỘC NGƯỜI NHẬN LÃNH CHỨC THÁNH PHẢI CÓ

Điều 1026

Để được thụ phong, đương sự phải được tự do hoàn toàn; tuyệt đối cấm cưỡng bách một người phải lãnh nhận chức thánh bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lí do nào, hoặc ngăn cản không cho một người có đủ khả năng xứng hợp theo giáo luật lãnh nhận các chức ấy.

Điều 1027

Các ứng viên phó tế và các ứng viên linh mục phải được đào tạo và được chuẩn bị kỹ lưỡng và chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1028

Giám Mục giáo phận hoặc Bề Trên có thẩm quyền phải liệu sao cho các ứng viên, trước khi được gọi lên một chức nào đó, phải được giáo huấn đầy đủ về những điều liên quan đến chức ấy cùng những nghĩa vụ của chức ấy.

Điều 1029

Dựa vào sự xét đoán khôn ngoan của mình và sau khi đã cân nhắc mọi sự, Bề Trên cấp cao có thẩm quyền chỉ nên cho tiến chức những ứng sinh có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng và các đức tính khác về thể lý cũng như về tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.

Điều 1030

Trừ khi có một lý do giáo luật, cho dầu còn kín, Giám Mục riêng hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền không được cấm các phó tế thuộc quyền mình tiến tới chức linh mục, khi họ đã được đề cử tiến chức, và phải tôn trọng quyền thựong cầu chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 1031

# 1. Chỉ được truyền chức linh mục cho những người đã trọn hai mươi  lăm tuổi và đã đư trưởng thành, ngoài ra, còn phải giữ khoảng cách ít là sáu tháng giữa chức phó tế và chức linh mục; ứng viên lên chức linh mục chí có thể được chịu chức phó tế sau khi đã chọn hai mươi ba tuổi

# 2. Một ứng viên phó tế vĩnh viễn không kết hôn chỉ được chịu chức phó tế, nếu đã đử ít là hai  mươi  lăm tuổi trọn; một ứng viên phó tế vĩnh viễn đã kết hôn rồi thì phải đủ ít là ba mươi lăm tuổi trọn và phải được sự chấp thuận của vợ mình.

# 3. Các Hội Đồng Giám Mục có trọn quyền ấn định quy tắc đòi hỏi tuổi cao hơn để tiến chức linh mục và phó tế vĩnh viễn.

# 4. Quyền miễn chuẩn quá một năm về tuổi buộc phải có chiếu theo quy tắc của các ## 1 và 2, được dành riêng cho Tông Toà

Điều 1032

# 1. Các ứng viên linh mục chỉ có thể chịu chức phó tế sau khi đã hoàn tất năm thứ năm của chu kỳ triết  học và thần học.

# 2.Sau khi đã hoàn tất chu kỳ học trước khi được chịu chức linh mục, phó tế phải tham gia công tác mục vụ  bằng cách thực hành chức phó tế trong một thời gian thích hợp do Giám Mục hay Bề Trên  cấp cao có thẩm quyền  xác định.

#3. Ứng viên phó tế vĩnh viễn chỉ được chịu chu71cna2ysau khi đã hoàn tất thời gian đào tạo.

TIẾT 2: NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT ĐỂ LÃNH NHẬN CHỨC THÁNH

Điều 1033

Chỉ có người nào lãnh nhận bí tích Thêm Sức rồi mới được lãnh nhận chức thánh cách hợp thức.

Điều 1034

#1. Chỉ được truyền chức cho một ứng viên phó tế hay một ứng vie6nlinh mục, nếu trước đó đương sự đã được nhà chức trách  được nói đến ở điều 1016 và 1019 ghi vào sổ các ứng viên qua nghi thức tiếp nhận  của phụng vụ, sau khi đương sự đã tự tay viết và ký tên   vào đơn xin và đã được nhà chức trách ấy chấp nhận bằng văn bản.

#2. Người nào đã gia nhập vào một hội dòng giáo sĩ  bằng những lời khấn, thì không buộc phải có ghi thức tiếp nhận.

Điều 1035

 #1. Trước khi được tiến chức phó tế, dù là vĩnh viễn hay chuyển tiếp, đương sự buộc phải lãnh nhận và thi hành thừa tác vụ đọc sách và thừa tác vụ giúp lễ trong một  thời gian thích hợp.

#2. Phải có khoảng cách ít là sáu tháng, từ khi lãnh nhận thừa tác vụ giúp lễ cho đến khi  chịu chức phó tế.

Điều 1036

Để có thể chịu chức phó tế hay chức linh mục, ứng viên phải đệ trình cho Giám mục riêng hoặc cho Bề Trên cấp cao có thẩm quyền một bản tuyên bố cho chính tay mình  viết và ký tên, trong đó đương sự xác nhận rằng mình tự nguyện và tự do lãnh nhận chức thánh và sẽ vĩnh viễn dấn thâ cho thứa tác vụ của Giáo Hội, đồng thời xin được chấp nhận để chịu chức.

Điều 1037

Người sắp được tiến chức phó tế vĩnh viễn mà không kết hôn, cũng như sắp được tiến chức linh mục, không được chấp nhận để  chịu chức phó tế nếu họ đã không công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước mặt Thiên Chúa và Giáo Hội, theo nghi thức đã được quy định, hoặc nếu họ đã không tuyên khấn vĩnh  viễn trong một hội dòng.

Điều 1038

Phó tế từ chối tiến chức linh mục không thể bị cấn thi hành  chức thánh đã lãnh nhận, trừ khi mắc một ngăn trở theo Giáo luật hay khi có một lý do nghiêm trọng nào  khác mà Giám Mục giáo phận Hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền phải thẩm định theo sự phán đoán của mình .

Điều 1039

Tất cả những người sắp chịu một chức thánh nào đó đều phải tỉnh tâm ít nhất là năm ngày, tại nơi theo thể thức do Đấng Bản Quyền ấn định; trước khi truyền chức, Giám Mục phải được thông báo về việc các ứng viên đã tỉnh tậm hợp lệ.

TIẾT 3: NHỮNG ĐIỀU BẤT HỢP LUẬT VÀ CÁC NGĂN TRỞ KHÁC

Điều 1040

Những người  đang mắc một ngăn trở vĩnh viễn nào đó được gọi là bất hợp luật, hoặc một ngăn trở đơn thuần, thì không được lãnh nhận các chức thánh; nhưng không có một ngăn trở nào khác ngoài những ngăn trở được nêu ra trong cácđiều khoảng sau đây.

Điều 1041

Những người sau đậy được coi là bất hợp luật để chịu chức:

10 người mắc bệnh điên khùng theo một hình thức nào đó hoặc mắc bệnh tâm thần, màtheo ý kiến của giám định viên, bệnh ấy là do lý do khiến họ không có năng lực để chu toàn thừa tác vụ cách thích đáng;

20người đã mắc tội bội giáo, lạc giáo hoặc ly giáo;

30người đã mưu toan kết hôn, dầu chỉ là hôn nhân theo luật dân sự, trong khi còn mắc ngăn trở  khôn kết hôn được do dây hôn nhân, hoặc do chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh, hoặc vì đương sự đã kết hôn với một người nu4d9a4 kết hôn thành sự hay đang bị ràng buộc bởi cùng lời khấn giữ đức khiết tịnh ấy;

40 người đã phạm tội sát nhân hoặc phá thai có hiệu quả và mọi người cộng tác tích cực vào các tội đó;

50 người đã chủ tâm hủy hoại thân thể  mình hay thân thể của người khác một cách nghiêm trọng  hoặc người đã mưu toan tự vẫn;

60người đã thực hiện một hành vi thuộc bí tích Truyền Chức dành riêng cho những vị có chức Giám Mục hay chức linh mục, khi không có chức ấy, hoặc đã bị cấm thi hành chức thánh ấy  do một hình phạt giáo luật đã được tuyên bố hay tuyên kết.

Điều 1042

Những người sau đây bị ngăn trở đơn thuần  để chịu chức:

10 người đã lập gia dình, trừ khi đương sự dự định  lãnh nhận chức phó tế vĩnh viễn cách hợp thức.

20 người giữ chức vụ hay một nhiệm vụ quản trị có kèm theo việc phải tường trình mà các giáo sĩ không được làm chiếu theo quy tắc của các điều 285 và 286, cho đến khi nào hết đảm nhận chức vụ và việc quản trị đó, hay đã hoàn thành việc tường trình, đương sự mới được tự do;

30người tân tòng, trừ khi Đấng Bản Quyền nhận xét là đương sự đã được thử thách đủ.

Điều 1043

Nếu biết có những ngăn trở lãnh nhận chức thánh, các Kitô buộc phải trình báo cho đấng Bản Quyền hay cho cha sở trước ngày truyền chức.

Điều 1044

#1. Những người sau đây được coi là bất hợp luật để thi hành chức thánh đã lãnh nhận:

10 người đã lãnh nhận các chức thánh cách bất hợp pháp đang khi ở trong tình trạng  bất hợp luật để lãnh nhận chức thánh;

20người đã mắc tội phạm được nói đến ở điều 1041,20, nếu là phạm tội công khai;

30 người đã mắc tội phạm được nói đến ở điều 1041,30, 40,50,,60.

#2. Những người sau đây  bị ngăn trở để thi hành chức thánh;

10người đã lãnh nhận các chức thánh cách bất hợp pháp đang khi bị một ngăn trở để lãnh nhận chức thánh;

20  người mắc bệnh điên khùng hay một bệnh tâm thàn nào, khác 9u7o75c nói đến ở điều 1041, 10, cho đến khi Đấng Bản Quyền cho phép thi hành  chức ấy, sau khi đã tham khảo ý kiến của giám định viên.

Điều 1045

Dù không biết  là có nhũng điều bất hợp luật và những ngăn trở, thì vẫn bị mắc những điều bất hợp luật  và những ngăn trở ấy.

Điều 1046

 Những điều bất hợp luật  và những ngăn trở được nhân lên khi chúng phát xuất từ những nguyên nhân khác nhau, chứ không từ một nguyên nhân được lập đi lập lại, trừ trường hợp bất hợp luật xuất phát từ tội sát nhân hoặc phá thai có hiệu quả.

Điều 1047

#1. Tông Tòa dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn  mọi điều bất hợp luật, nếu sự kiện nền tảng của những điều bất hợp luật ấy đã được đưa ra tòa án.

#2. Quyền miễn chuẩn những điều bất hợp luật và những ngăn trở sau đây để lãnh nhận  chức thánh cũng được dành riêng cho Tông Tòa;

10 những điều bất hợp luật do tội phạm công khai được nói  đến ở điều 1041,20 và 30;

20 điều bất hợp luật do tội  phạm công khai hoặc kín đáo được nói đến ở điều 1041,40;

30 ngăn trở được nói đến ở điều 1042, 10.

#3. Tông Tòa cũng dành riêng cho mình quyền miễn chuẩn những điều bất hợp luật để thi hành chức thánh đã lãnh nhận  được nói đến ở điều 1041,30 trong những trường hợp công khai mà thôi, và quyền miễm chuẩn những điều bất hợp luật cả trong những trường hợp kín đáo, được nói đến ở điều 1041,40.

#4. Đấng Bản Quyền có thể miễn chuẩn những điều bất hợp luật và những ngăn trở không được dành riêng cho Tòa Thánh.

Điều 1048

Trong những trường hợp kín đáo và khẩn cấp hơn, nếu không thể đến được  với Đấng Bản Quyền hoặc Tòa Aân Giải đối với nhũng điều bất hợp luật được nói đến ở điều 1041, 30và 40, và  nếu nguy cơ thiệt hại nặng hoặc mất thanh danh xảy ra, người bị ngăn trở không được thi hành chức thánh của mình do một bất hợp luật vẫn có thể thi hành chức thánh ấy, miễn là vẫn giữ nguyên nghĩa vụ phải đến với Đấng Bản Quyền hoặc Tòa Aân Giải sớm hết sức; qua trung gian của cha giải tội và không cần xưng danh tính.

Điều 1049

#1. Trong đơng xin miễn chuẩn  nh874ng điều bất hợp luật và nhũng ngăn trở, phải nêu rõ điều bất hợp luật và mọi ngăn trở, tuy nhiên, việc miễm chuẩn tổng quát cũng có hiệu lực đối với những điều bất hợp luật và những ngăn trở đã không được nêu ra vì ngay tình, trừ những điều bất hợp luật được nói đến ở điều 1041, 40 hay những điều bất hợp luật đã được đưa ra tòa án, nhưng không có hiệu lực đối  với những điều bất hợp luật và những ngăn trở đã không được nêu ra vì gian ý.

#2. Nếu là điều bất hợp luật do tội sát nhân hoặc tội phá thai, cũng phải nêu rõ số lần phạm tội nữa để miễn chuẩn có hiệu lực.

#3. Việc miễn chuản tổng quát những điều bất hợp luật và những ngăn trở để lãnh  nhận chức thánh có hiệu lực cho tất cả mọi chức thánh.

TIẾT 4: CÁC CĂN BẢN CẦN THẾT VÀ VIỆC ĐIỀU TRA

Điều 1050

Để có thể được tiến cử lên các chức thánh, đương sự buộc phải có các văn bản sao đây:

10 giấy chứng nhận đã học xong  chương trình chiếu theo quy tắc của điều 1032;

20 giấy chứng nhận đã chịu chức phó tế, nếu là ứng sinh tiến chức linh mục;

30 giấy chứng nhận đã chịu phép Rửa Tội và phép Thêm Sức, cũng như đã lãnh nhận các thừa tác vụ được nói đến ở điều 1035 nếu là những ứng sinh tiến chức phó tế, hơn nữa, giấy chứng nhận  đã làm bản tuyên bố được nói đến ở điều 1036, cũng như giấy chứng nhận đã cử hành bí tích Hôn Nhân và giấy chứng đã có sự chấp thuận của người vợ, nếu là ứng sinh chịu chức phó tế vĩnh viễn đã lập gia đình.

Điều 1051

Về việc điều tra các đức tính cần thiết của người nhận lãnh chức thánh, phải giữ những quy định sau đây;

10 phải có giấy chứng nhận của giám đốc chủng viện hay giám đốc cơ sở đào tạo về các đức tính cần thiết để lãnh nhận chức thánh, tức là; học thuyết ngay lành, đạo đức chân thành, hạnh kiểm tốt, khả năng thi hành thừa tác vụ của ứng sinh; và còn phải có giấy chứng nhận tình trạng sức khỏe thể lý và tâm lý, sau khi đã khám nghiệm kỹ lưỡng;

20để điều tra cách thích hợp, Giám Mục giáo phận hoặc Bề  Trên cấp cao có thể dùng những phương thế khác được em là hữu ích, tùy theo hoàn cảnh của mỗi thời và mỗi nơi, chẳng hạn như các chứng thư, các thông báo hay các thông tin khác.

Điều 1052

#1. Để có thể tiến hành truyền chức, khi truyền chức do quyền riêng của mình, thì chính Giám Mục phải biết chắc là đã thu nhập được nhũng văn kiện được nói đến ở điều 1050, đã thực hiện việc điều tra chiếu theo quy tắc của luật, và đã có những chứng cớ xác thực về khả năng xứng hợp của ứng viên.

#2. Để tiến hành việc  truyền chức thánh  cho một người không thuộc quyền mình, Giám Mục chỉ cần thư giới thiệu xác nhận là đã thu thập những văn kiện ấy, đã thực hiện việc điều tra chiếu theo quy tắc của luật, và đã biết chắc chắn khả năng xứng hợp của ứng viên; nếu người lãnh nhận chức thánh là thành viên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ, thì những thư giới thiệu ấy còn phải chứng nhận là đương sự đã vĩnh viễn gia nhập hội dòng hay tu đoàn, và là người thuộc quyền Bề Trên cấp thư giới thiệu.

#3. Mặc dù đã làm tất cả những việc nói trên, nếu có những lý do chắc chắn khiến cho Giám Mục hồ nghi ứng viên có khả năng xứng hợp để lãnh nhận các chức thánh hay không, thì ngài không được cho đương sự tiến chức.

CHƯƠNG 3: VIỆC GHI SỔ VÀ CHỨNG THƯ TRUYỀN CHỨC

Điều 1053

#1. Sau khi đã truyền chức, phải ghi tên của từng người đã thụ phong và tên của thừa tác viên truyền chức, nơi và ngày truyền chức trong một cuốn sổ riêng được lưu giữ cẩn thận tại tòa giám mục ở nơi đã truyền chức và phải cẩn thận lưu giữ tất cả mọi văn kiện của  mỗi lần truyền chức.

#2,Giám Mục truyền chức phải cấp cho  mỗi người đã được thụ phong một giấy chứng nhận chính thức  về việc nhận chức về việc nhận chức thánh, nếu được giới thiệu cho một Giám Mục khác truyền chức, thì các người mới thụ phong phải trình những giấy chứng nhận cho Đấng Bản Quyền của mình để ghi vào ổ riêng được lưu giữ trong văn khố.

Điều 1054

Đấng Bản quyền địa phương, nếu những người thụ phong là giáo sĩ triều, hoặc Bề Trên cấp cao có thẩm quyền, nếu những người thụ phong là tu sĩ thuộc quyền mình, phải thông báo từng lần truyền chức cho cha sở tại nơi các đương sự đã được Rửa Tội, để ghi vào sổ Rửa Tội, chiếu theo quy tắc của điều 535#2.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây