PHẦN III: NƠI THÁNH VÀ THỜI GIAN THÁNH (1205 - 1253)

PHẦN III: NƠI THÁNH VÀ THỜI GIAN THÁNH (Điều 1205 - 1253)

ĐỀ MỤC 1: NƠI THÁNH

Điều 1205

Nơi thánh lànhững nơi đã đượccung hiếhay được phép theo quy định của các sách phụng vụ, để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúahay đề mai táng các tín hữu.

Điều 1206

Việc cung hiến một nơi nào đó thuộc về Giám Mục giáo phận và những vị được luật coi  là tưong đương với GiámMục; các vị này có thể uỷ quyền cho bất cứ Giám Mục nào, hay cho một linh mục nào đó trong những trường hợp ngoại lệ, để thực hiện nghi thức cung hiến trong địa hạt riêng của mình.

Điều1207

Đấng BaÛn Quyền  làm phép các nơi thánh,  nhưng việc làm phép các nhà thờ thì được dành riêng cho Giám Mục  giáo phận cả hai vị đều có quyền cho một tư  tế khác để làm việc ấy.

Điều 1208

Sau khi đã cung hiến hay phép nhà thờ, cũng như sau khi đã làm phép nghĩa địa, phải soạn thảo một chứng thư về việc ấy, một bản được lưu giũ tại toà giám mụcvà một bản khác tại văn khố của nhà thờ.

Điều 1209

Việc cung hiến hay làm phép một nơi nào đó chỉ cần có một  nhân chứngđáng tin làm chứng là đủ, miễn là việc làm chứng này không làm thiệt hại ai cả.

Điều 1210

Trong một nơi thánh chỉ  được phép làm  nhũng việc giúp thi hành hay thăng tiến việc thờ phượng, lòng đạo đức và tôn giáo, và cấm làm bất cứ  điều gìkhông xứng hợp với sự thánh thiện của nơi thánh. Tuy nhiên Đấng Bản Quyền  có thể cho phép sử dụng từng lần vào các việc khác, miễn là không nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh.

Điều 1211

 Những nơi thánh bị xúc phạm do nhũng hành vi vì bất xứng nghiêm trọng đã phạm tại đó và đã gây gương xấu  cho các tín hữu, theo sự phán đoán của Đấng Bản Quyền địa phương những  hành vi  có tính cách nghiêm trọng và nghịch với sự thánh thiện của nơi thánh, đến nỗi không được phép cử hành thờ phượng tại đó nữa, cho đến khi đền bù lại  sự bất xứng đó bằng nghi thức sám hối  chiếu theo quy tắc của sách phụng vụ.

Điều 1212

Những nơi thánh mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép, nếu phần lớnđã bị phá hủy,hoặc được sử dụng vào những việc phàm tục một cách thường xuyên, hoặc do sắc lệnh của Đấng Bản Quyền co1tha63m quyền, hoặc do thực tế.

Điều 1213

Nhà chức trách Giáo Hội được tự do thi hành các quyền và ca1cnhie65m vụ của mình trong nơi thánh .

 CHƯƠNG 1:  NHÀ THỜ

 Điều 1214

 Được hiểu là một tòa nhà thánh dành  riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, nhà thờ là nơi các tín hữu có quyền vào để thi hành  việc thờ phượng Thiên Chúa, nhất là việc thờ phượng công.

Điều 1215

#1. Không được xây dựng nhà thờ, nếu không có sự chấp nhận minh nhiên bằng văn bản của Giám Mục giáo phận.

#2.Giám Mục giáo phận chỉ nên chấp thuận, nếu sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng linh mục và các vị quản nhiệm  nhà thờ lân cận, ngài xét thấy là nhà thờ có thể đem lại lợi ích cho  các linh hồn, và sẽ không thiếu  những phương tiện cần thiết  để xây dựng nhà thờ cũng như đểthi hành việc thờ phượng  Thiên Chúa.

#3. dù đã được Giám  giáo  phận chấp thuận  cho phép thiết lập nhà mới trong giáo phận hay trong thành phố của  ngài, các hội dòng cũng phải  cũng có phép của ngài trước khi  xây dựng nhà thờ ở một nơi đích  xác và nhất định.

Điều 1216

 Khi xây dựng và sửa chữa nhà thờ, ngoài việc hỏi ý các chuyên viên, phải giữ những nguyên tắc  và quy tắc phụng vụ và nghệ thuật thánh.

Điều 1217

#1. Một khi đã được xây  dựng xong, nhà thờ mới phải được cung cấp  sớm hết sức, hoặc ít là phải được phép, theo luật phụng vụ thánh.

#2. Các nhà thờ, nhất là nhà thờ chính tòa và  nhà thờ giáo xứ, phải được cung hiến cách trọng thể.

Điều 1218

Mỗi nhà thờ phải có một tước hiệu riêng và một khi đã được cung hiến thì không được thay đổi tước hiệu này nữa.

Điều 1219

Trong một nhà thờ đã được cung hiến hay đã được làm phép một cách hợp pháp, thì có thể cử hành tất cả mọi  hành vi thờ phượng Thiên Chúa, miễn là vẫn tôn trọng các quyền lợi của giáo xứ.

Điều 1220

#1. Việc chăm lo gìn giữ các nhà thờ sạch sẽ và mỹ quan, xứng đáng là nhà Thiên Chúa, và loại bỏ những gì  không thích hợp với sự thánh thiện của nhà thờ thuộc về tất cả những người có trách nhiệm coi sóc nhà thờ.

#2.Để gìn giữ những đồ thánh quý giá, phải thường xuyên quan tân đến việc bảo quản và phải sử dụng những  phương tiện  an toàn thích hợp.

Điều 1221

Phải được tự do và được miễn phí vào nhà thờ trong lúc cử hành các nghi lễ thánh.

Điều 1222

#1. Nếu một nhà thồ không thể sử dụng vào việc thờ phượng Thiên Chúa bằng bất cứ cách nào và cũng không thể tu bổ được nữa, Giám Mục giáo phận có thể sử dụng nhà thờ đó vào việc phàm tục tương hợp.

#2. Nơi nào có những lý do nghiêm trọng khác khuyên không nên sử dụng một nhà thờ nào đó, vào việc thờ phượng Thiên Chúa nữa, thì Giám Mục giáo phận sau khi đã tham khảo ý kiến của hội đồng linh mục, có thể cho sử dụng vào nhà thờ ấy vào một việc phàm tục tương hợp, với sự đồng ý của những người yêu sách quyền lợi của họ trên nhà thờ ấy cách hợp lệ, và miễn là không làm thiệt hại đến lợi ích  của các linh hồn.

 CHƯƠNG 2: NHÀ NGUYỆN VÀ NHÀ NGUYỆN TƯ

Điều 1223

Nhà nguyện được hiểu là một nơi Đấng Bản Quyền ban phép dành vào việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một cộng đoàn hay của nhóm tín hữu quy tụ tại đó, các tín hữu khác cũng có thể vào nhà nguyện ấy với sự chấp thuận của Bề Trên có thẩm quyền.

Điều 1224

#1. Đấng Bản Quyền chỉ nên ban phép cần thiết  để thiết lập một nhà nguyện, sau khi đã đích thân hay nhờ một người khác đến tham quan nơi dành làm nhà nguyện và đã thấy nơi ấy được bố trí thích hợp.

#2. Một khi đã được phép rồi, nhà nguyện không thể được sử dụng vào việc phàm tục, nếu không có phép của chính Đấng Bản Quyền ấy.

Điều 1225

Trong ca1cnha2 nguyện đã được thiết lập cách hợp pháp, có thể cử hành tất cả mọi nghi lễ thánh, trừ khi nghi lễ mà luật hoặc các quy định của Đấng Bản Quyềnđịa phương đã loại bỏ, hoặc nghịch với  những quy tắc phụng vụ.

Điều1226

Nhà nguyện tư được hiểu là một nơi đã được Đấng Bản Quyền địa phương ban phép dành cho việc thờ phượng Thiên Chúa, vì lợi ích của một hay nhiều thể nhân.

Điều 1227

Các Giám Mục có thể thiết lập cho mình một nhà nguyện tư, nhà nguyện tư này có cùng một quyền lợi của một nhà nguyện.

Điều 1228

Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1227, để cử hành Thánh Lễ và các nghi lễ thánh trong một nhà nguyện tư nào đó, thì buộc phải có phép của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1129

Nên làm phép nhà nguyện và nhà nguyện tư theo nghi lễ được quy định  trong các sách phụng vụ, nhưng các nhà nguyện này phải được dành riêng trong việc thờ phượng Thiên Chúa mà thôi, và không được sử dụng vào bất cứ việc gì trong nhà.

CHƯƠNG 3: ĐỀN THÁNH

Điều 1230

Đền thánh được hiểu là một nhà hay một nơi thánh nào khác mà nhiều tín hữu đi hành hương tới đó vì lòng đạo đức đặc biệt, với họ chấp thuận của Đấng Bản Quyền địa phương.

Điều 1231

Để một đền thánh có thể được gọi là đền thánh quốc gia, thì phải được Hội Đồng Giám Mục phê chuẩn; để có thể được gọi là đền thánh quốc tế, thì buộc phải có sự phê chuẩn của Tòa Thánh.

Điều1232

#1.Đấng Bản Quyền địa phương có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh giáo phận; Hội Đồng Giám Mục có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc gia và chỉ một mình Tòa Thánh mới có thẩm quyền phê chuẩn các quy chế đền thánh quốc tế.

#2. Các quy chế phải đặc biệt xác định mục đích, quyền bính của cha quản nhiệm, quyền sở hữu và việc quản trị tài sản.

Điều 1233

Có thể ban cho các đền thánh một số đặc ân mỗi khi thấy hoàn cảnh địa phương, số người hành hương đông đảo và nhất là lợi ích của các tín hữu đòi hỏi điều đó.

Điều 1234

#1. Tại các đềnhánh, phải cung cấp các phương tiện cứu độ cho các tín hữu một cách dồi dào, bằng cách nhiệt thành rao giảng Lời Chúa, cổ vũ cách thích hợp đời sống phụng vụ, đặc biệt qua việc cử hành bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, cũng như bằng cách duy trì việc thực hành lòng sùng đạo bình dân đã được chuẩn nhận.

#2. Những kỷ vật dâng cúng có giá trị nghệ thuật bình dân và đạo đức được trưng bày trong các đền thánh hoặc trong các nơi kề cận phải được bảo tồn và gìn giữ an toàn.

CHƯƠNG 4: BÀN THỜ

Điều 1235

#1. Bàn thờ, tức là chiếc bàn mà Hiến Tế Thánh Thể được cử hành trên đó, được coi là cố định, nếu được xây gắn liền với nền nhà, đến nỗi không thể di chuyển được; được coi là di động, nếu có thể di chuyển được.

#2. Trong tất cả mọi nhà thờ, nên có một bàn thờ cố định; nhưng trong các nơi khác dành cho việc cử hành các nghi lễ thánh, bàn thờ  có thể cố định hay di động.

Điều 1236

#1. Theo truyền thống thực tiễn của Giáo Hội, mặt bàn thờ cố định phải bằng đá,và còn phải  bằng  nguyên một phiến đá tự nhiên; tuy nhiên, cũng có thể chấp nhận  cho dùng một vật liệu khác xứng đáng và rắn chắc, theo sự thẩm định của Hội Đồng Giám Mục. Còn phần chống đỡ hay chân bàn thờ có thể được làm  bằng bất cứ vật liệu nào.

#2. Bàn thờ di động có thể được làm bất cứ vật liệu rắn chắc nào hợp với việc sử dụng trong phụng vụ.

Điều 1237

#1. Các bàn thờ cố địnhphải được cung hiến, còn bàn thờ di độngphải được cung hiến hoặcđược làm phép  theo nghi thức đã được quy định trong các sách phụng vụ.

#2. Phải giữ gìn truyền thống cổ kính đặt các thánh tích của các thánh tử đạo hay các thánh khác dưới bàn thờ cố định, theo các quy tắc được quy định trong các sách phụng vụ.

Điều 1238

#1. Một bàn thờ mất tính cách đã được cung hiến hay đãđược làm phép chiếu theo quy tắc của điều 1212.

#2. Do sự kiện cho sử dụng nhà thơ øhay một nơi thánh khác vào việc phàm tục, các bàn thờ cố định hay di động không mất tính  cách đã được cung hiến, và cũng không mất tính cách đã được làm phép .

Điều 1239

#1. Cả bàn  thờ cố định lẫn bàn thờ di động  chỉ được dành rie6ngcho việc thờ phượng Thiên Chúa, tuyệt đối không được sử dụng vào bất cứ việc phàm tục nào.

#2.Không được chôn cất thi hài dưới bàn thờ, nếu co thì không được phép cử hành Thánh Lễ trên bàn thờ ấy.

CHƯƠNG 5: NGHĨA TRANG

Điều 1240

#1. Phải có những nghĩa trang riêng của Giáo Hội ở nào có thể, hay ít ra phải có những khu vực dành riêng cho các tín hữu đã qua đời trong những trang dân sự, và những khu vực này phải được làm phép đúng nghi thức.

#2. Nếu không thể có các nghĩa trang riêng, thì phải làm phép các phần mộ từng lần một đúng nghi  thức.

Điều 1241

#1. Các giáo xứ và các  hội dòng có thể có nghĩa trang riêng.

#2.Các pháp nhân khác hay các gia đình cũng có thể có nghĩa trang hay hầm mộ riêng, nghĩa trang và hầm mộ này phải được làm phép, tùy theo sự thẩm định của Đấng Bản Quyền  địa phương.

Điều 1242

Không được chôn cất các thi hài trong các nhà thờ, trừ khi  thi hài của Đức Giáo Hoàng Rôma, của các Hồng Y và của các Giám Mục giáo phận, ngay cả nguyên Giám Mục, thì phải được chôn cất trong nhà thờ của mình.

Điều 1243

Luật địa phương phải ấn địnhnhững quy tắc thích hợp về kỷ luật phải giữ trong các nghĩa trang, nhất là về  những gì liên quan tới việc duy trì và bảo vệ tính cách thiêng liêng của những người ấy.

ĐỀ MỤC 2: THỜI GIAN THÁNH

Điều 1244

#1.Việc thiết lập, chuyển dời và hủy bỏ những ngày lễ cũng như các ngày sám hối chung cho Giáo Hội  toàn cầu thuộc về một mình quyền bính  tối cao của Giáo Hội; miễn  là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1246 #2.

#2. Các Giám Mục giáo phận có thể ấn định các ngày lễ hoặc các ngày sám hối riêng cho giáo phận hay cho một vài nơi trong giáo phận, nhưng chỉ từng lần mà thôi.

Điều 1245

Miễn là vẫn giữ nguyên quyền của Giám Mục giáo phận được nói đến ở điều 87, vì một lý do chính đáng, và theo quy định của Giám Mục giáo phận, cha sở, trong từng trường hợp, có thể miễn chuẩn nghĩa vụ phải giữ một ngày lễ hay một ngày sám hối hoặc thay thế nghĩa vụ ấy gằng một việc đạo đức khác; Bề Trên của một hội dòng hay của một tu đoàn tông đồ cũng có những quyền ấy đối với những người thuộc quyền mình và những người khác đêm ngày cư ngụ trong nhà mình, nếu hội dòng và tu đoàn thuộc luật giáo hoàng.

CHƯƠNG 1: CÁC NGÀY LỄ

Điều 1246

#1. Theo truyền thống tông đồ, mầu nhiệm  Vượt Qua đuộc cử hành trong ngày Chúa Nhật, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu  trong Giáo Hội toàn cầu. Và cũng phải giữ như là ngày lễ buộc chính yếu  những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển  Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô  Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, lễ Thánh Giuse, lễ hai thánh tông  đồ Phêrô và Phao lô, và sau cùng là lễ của các thánh.

#2.Tuy nhiên, với sự phê chuẩn trước Tòa Thánh, Hội Đồng Giám Mục có thể hủy bỏ hoặc chuyển một số lễ buộc sang ngày lễ Chúa Nhật.

Điều 1247

Các tín hữu buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc khác; hơn nữa, còn phải kiêng làm việc xác và những công việc gây trở ngại cho việc thờ phượng Thiên Chúa, cho niềm  vui  riêng trong ngày của Chúa, hoặc cho việc nghỉ  ngơi cần thiết của tinh thần và thể xác.

Điều 1248

#1.Người nào tham dự Thánh Lễ được  cử hành theo nghi thức Công giáo trong  chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ ở bất cứ nơi nào, thì đã giữ trọng luật buộc phải tham dự  Thánh Lễ.

#2. Nếu không thể tham dự  việc cử hành Thánh Lễ vì thiếu thừa tác viên có chức thánh hay vì bất cứ lý do nghiêm trọng nào khác, tha thiết khuyên nhủ các tín hữu nên tham dự phụng vụ Lời Chúa được cử hành theo những quy định của Giám Mục giáo phận trong nhà thờ giáo xứ, nếu có, hoặc tại một nơi thánh nào khác, hoặc nên cầu nguyện trong một thời gian thích hợp, cách riêng tư hoặc với gia đình, hoặc với các nhóm gia đình, tùy dịp.
 

CHƯƠNG 2: CÁC NGÀY SÁM HỐI

Điều 1249

 Luật Thiên Chúa buộc tất cả mọi Kitô hữu phải làm việc sám hối , mỗi người theo cách thức của mình, nhưng để mọi người đượchiệp nhất trong cách tuân giữ chung việc sám hối, và trong những ngày ấy, các Kitô hữu phải cầu nguyện cách đặc biệt , phải thực hành việc đạo đứcvà bác ái, phải từ  bỏ chính mình bằng cách chu toàn các nghĩa vụ của mình cách trung thành hơn, và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt, chiếu theo quy tắc của các điều khoản sau đây.

Điều 1250

Những ngày và mùa sám ho61itrong Giáo Hội toàn cầu là các ngày thứ sáu trong năm và mùa Chay.

Điều 1251

Vào  các ngày thứ sáu trong năm, nếu không trùng với một trong những ngày lễ trọng, thì phải kiêng thịt hoặc phải kiêng một thức ăn nào khác, theo quy dịnh của Hội Đồng Giám Mục; nhưng phải kiêng thịt và ăn chay trong ngày thứ tư Lễ Tro và ngày thứ sáu kính cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Điều 1252

Những người đã được mười bốn tuổi buộc phải giữ luật kiêng thịt, nhưng tất cả mọi người từ tuổi thành niên cho đến khi bắt đầu được sáu mươi tuổiphải giữ luật ăn chay . Tuy nhiên, các vị chủ chăn các linh hồn và các bậc cha mẹ  phải liệu sao để cả những người trẻ  được miễn khỏi giữ luật ăn chay kiêng thịt vì lý do tuổi tàc cũng được giáo dục về ý nghĩa đích thựccủa việc sám hối.

Điều 1253

Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định rõ ràng hơn những thể thức ăn chay và kiêng thịt, cũng như những hình thứcsám hối khác, nhqất là những công việc bác ái và những việc đạo đức có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay.

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây