GIẢI ĐÁP VỀ MỤC VỤ GIÁO LUẬT HÔN NHÂN

Thứ bảy - 06/04/2024 23:11
GIẢI ĐÁP VỀ MỤC VỤ GIÁO LUẬT HÔN NHÂN
 
Lm. J.B. Lê Ngọc Dũng

A- Câu hỏi liên quan đến “Những Nguyên Tắc Hướng Dẫn Giáo Luật Bí Tích Hôn Phối” (x. https://giaoluatconggiao.com/bi-tich-hon-phoi/nhung-nguyen-tac-huong-dan-giao-luat-hon-phoi-293.html).

Điều 12: Về nghĩa vụ phải chứng hôn
Hỏi:
Cha sở buộc phải chứng hôn không chỉ người có cư sở, mà phải cả người có bán cư sở nữa chứ, vì cha sở của người có bán cư sở cũng được gọi là “cha sở riêng” (x. đ. 107 §1)?
Giải đáp:
Nghĩa vụ chứng hôn đối với cha sở nơi tín hữu có cư sở được đòi hỏi mạnh mẽ hơn, nên bản Hướng dẫn dùng chữ “buộc”, dựa trên quy định về nghĩa vụ đã được ủy thác cho cha sở chiều theo điều 530.
Điều 530. Những nhiệm vụ đã được uỷ thác đặc biệt (commissae sunt) cho cha sở là:
10 Ban bí tích Rửa Tội;
20 Ban bí tích thêm sức cho những người nguy tử, chiếu theo quy tắc của điều 883, 3o;
30 Ban của ăn đàng và bí tích xức dầu bệnh nhân, miễn là vẫn tôn trọng những quy định của điều 1003 §2. và 3; cũng như ban phép lành Tông Toà;
40 Chứng hôn và chúc hôn;
50 Cử hành lễ nghi an táng;
60 Làm phép giếng Rửa Tội trong mùa Phục Sinh, chủ sự các cuộc rước kiệu ngoài nhà thờ, cũng như ban phép lành trọng thể ngoài nhà thờ;
70 Cử hành Thánh Lễ cách trọng thể hơn trong các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc
Với từ “ủy thác” Giáo hội muốn cha sở khi thi hành có phần chủ động công việc, khôn ngoan linh động như một mục tử chăn dắt đoàn chiên. Trong nhiệm vụ chứng hôn, sở dĩ bản Nguyên tắc hướng dẫn dùng chữ “buộc” là để ngăn ngừa những cha sở thoái thác nhiệm vụ mà không có lý do chính đáng, gây thiệt hại đến giáo dân thuộc quyền.
Rõ ràng là, nghĩa vụ của cha sở đối với người có cư sở, thì khác với người chỉ có bán cư sở.
Để rõ hơn, nên biết Giáo luật còn nói đến một khái niệm khác “người thuộc quyền mình”. Vậy thì một tín hữu sẽ thuộc quyền cha sở nào, cha sở của nơi thường trú hay nơi tạm trú? Dĩ nhiên là cha sở của nơi thường trú. Và vì vậy, cha sở hầu như bị “buộc” chu toàn nhiệm vụ với người thuộc quyền mình. Nếu nói, thuộc quyền của cả hai, thì sẽ có nguy cơ xung đột giữa hai cha sở.
Thử xét đến trường hợp rửa tội (số 1) và an táng (số 5) ở điều 530, vì cha sở của tín hữu chỉ có bán cư sở cũng được “ủy thác” như cha sở riêng để rồi ngài thấy mình có nhiệm vụ giúp họ khi họ rơi vào trường hợp khó khăn. Nhưng nếu nói “buộc” ngài cử hành thì ngài sẽ có thể bị buộc làm điều vi phạm đến quyền cha sở mà giáo dân thuộc quyền. Ví dụ, giáo dân tuy có đủ điều kiện để được rửa tội cho con hay an táng tại giáo xứ mình nhưng vì không thích cha sở hay thấy cha xử sự nghiêm khắc, sẽ đến xin cha sở nơi tạm trú vì thấy cha sở này dễ dàng hơn. Làm sao có thể “buộc” cha sở nơi tạm trú phải thỏa mãn yêu cầu của họ. Ngược lại, cha sở phải từ chối để giữ sự hài hòa trong công việc mục vụ giữa hai cha sở, để không lấn quyền nhau và giữ danh dự cho nhau.
Về bí tích Hôn Phối (số 4), cha sở nơi tạm trú thiếu sổ sách tư liệu và biết rất ít hay không biết về người chỉ tạm trú trong xứ mình. Trong khi đó, để nhận chứng hôn ngài phải bảo đảm rằng hôn nhân không có gì ngăn trở để cử hành thành sự và hợp luật. Ngài phải lo tiến hành thủ tục điều tra rao báo…
Nếu Giám mục giáo phận ra lệnh “buộc” cha sở phải chứng hôn cho người có bán cư sở như người di cư, sinh viên mới đến ở… thì quả là điều dồn ép cha sở, gây sự phản kháng nơi các cha sở, vì quyết định này có phần vô lý. Lệnh này sẽ khó hay bất khả thi. Vì vậy, Giám mục chỉ khuyến khích chứ không nên buộc cha sở chứng hôn cho người chỉ có bán cư sở.
Ở chiều hướng ngược lại, sự tích cực của cha sở cử hành các bí tích cho người chỉ có bán cư sở, cách thái quá cũng gây thiệt hại mục vụ. Mà khi văn bản nói "buộc" thì ngài có lý do để làm cách thái quá. Ví dụ, một cha sở nhiệt tình, dễ dàng nhận chứng hôn cho những người chỉ có tạm trú. Các đôi hôn nhân có gặp khó khăn ở xứ khác, như là cha sở bắt học giáo lý lâu ngày, phải gặp được cha mẹ, không công nhận chứng chỉ giáo lý, khảo bài lại… đến xin cha sở nơi tạm trú này để chứng hôn.  Ngài nhận lời và còn nâng đỡ giáo dân ở xứ lân cận đến nhập vài ca đoàn, giáo lý viên của ngài… Kết quả là ngài được các cha sở khác đặt biệt hiệu là cha sở “tòng nhân” và thậm chí hỏi Đức Cha xem có đặt ông ấy là cha sở tòng nhân hay không?

Điều 72 §3: Chất vấn người phối ngẫu lương
Hỏi:
Trong trường hợp người được rửa tội đã trải qua nhiều lần kết hôn với người lương, việc chất vấn được thực hiện với người vợ hay chồng người lương trong kết hôn lần gần nhất” → Phải là với người kết hôn đầu tiên chứ? vì đó mới là hôn nhân tự nhiên đích thực? Những lần sau đâu thực sự là vợ chồng, theo giáo huấn của Hội Thánh? Cũng xem mạch văn của điều 1148: nhắc đến người “vợ cả” trước, rồi sau đó mới cho phép chọn một trong số ấy như một loại đặc ân Thánh Phêrô.
Giải đáp:
Không phải là người kết hôn đầu tiên mà là người: 1- đang còn có quyền lợi và nghĩa vụ với người tân tòng, “và” 2- hoàn toàn không có một cơ hội nào để bách hại người tân tòng. Lý do được giải thích bởi chính mục đích của Đặc ân Thánh Phaolo là để bảo vệ đức tin cho người tân tòng. Đối với các hôn nhân trước đó, những vấn đề (1) và (2) không chi phối đức tin của người tân tòng. Ở đây không kể đến vấn đề thành sự hay không của các hôn nhân theo Giáo huấn Giáo Hội mà chỉ kể đến hiệu quả dân sự của hôn nhân (đ. 1059) tác động đến đức tin của người tân tòng. Và dĩ nhiên hiệu quả dân sự của hôn nhân sau cùng.
Vào thời của Thánh Phaolo, Giáo hội đang bị bách hại, người mới theo đạo có thể bị người chồng hay vợ là người lương của mình bách hại. Ngài cho chia tay để tránh sự bách hại. Vì vậy, bên người lương kia nếu vẫn còn muốn sống chung (muốn giữ quyền lợi và nghĩa vụ của mình) nhưng còn có thể bách hại người tân tòng thì Đặc ân vẫn được ban (thể hiện qua câu hỏi: … có muốn sống chung mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa/ Thiên Chúa không?). Còn nếu bên lương kia cũng muốn theo đạo thì người tân tòng sẽ không bị bách hại (thể hiện qua câu hỏi: có muốn được rửa tội không?). Khi đó không còn lý do để bảo vệ đức tin, Đặc ân sẽ không được ban.
Vì vậy, phải chất vấn người chồng hay vợ của hôn nhân dân sự hợp pháp sau cùng. Trường hợp, người tân tòng sống đa phu hay đa thê cách hợp pháp, thì phải chất vấn tất cả những người chồng hay vợ của tân tòng.
Ngày nay áp dụng đặc ân thánh Phaolo có khác với ban đầu. Thời Thánh Phaolo, người ta theo đạo rồi hay sắp theo đạo, và họ ở trong tình trạng bị bách hại. Thánh Phaolo cho phép hủy hôn nhân đang có để bảo vệ đức tin. Ngày nay, đa số trường hợp là muốn kết hôn trước rồi việc theo đạo là chuyện đi sau. Có thể nói, mục đích bảo vệ đức tin của Đặc ân đã bị chuyển dịch sang mục đích đáp ứng quyền kết hôn của con người.

Điều 74 §2: về người làm chất vấn bên người lương
Hỏi: Đặc ân Phaolô được ban do chính luật…không phải xin Đấng Bản quyền địa phương ban phép hay ban quyền cử hành đặc ân → Dù sao, bản văn nguyên thủy của Giáo luật điều 1145 §1 xác định rõ ràng là “theo nguyên tắc chung, quyền bính của Đấng Bản quyền địa phương của bên trở lại phải thực hiện việc chất vấn ấy”; do đó, nên quy định chung là “các cha xứ thực hiện việc chất vấn mà không cần xin phép Đấng Bản quyền” hơn là khẳng định rõ ràng ngược lại là “Đặc ân Thánh Phaolô được ban do chính Giáo luật… không cần phải xin phép Đấng Bản quyền”.
Giải đáp:
Bản Hướng dẫn có nhiệm vụ hướng dẫn làm cho đúng luật, cách riêng đối với các trường hợp có những áp dụng khác biệt nhau giữa các giáo phận. Vì có nhiều giáo phận miền Bắc đang còn đòi các cha sở phải xin phép Giám mục giáo phận khi áp dụng chứng hôn theo đặc ân thánh Phaolo. Cụm từ “được ban do chính Giáo luật” được thêm vào để minh định rằng việc áp dụng không phải là được ban do chính Giám mục, mà do Thánh Phaolo. Giám mục được quyền trên sự thẩm vấn mà thôi để các cha sở làm đúng.
Nói chung, Giám mục Miền Bắc thường giữ quyền miễn chuẩn các hôn phối, ít khi trao cho Tổng Đại Diện. Các ngài cũng giữ quyền như vậy ngay cả đối với cha sở trong áp dụng đặc ân Thánh Phaolo!


 

Tác giả: JB Dũng Lm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

GIAOLUATCONGGIAO.COM

GIỚI THIỆU TRANG GIÁO LUẬT CÔNG GIÁO

Con xin giới thiệu trang Web ;http://giaoluatconggiao.com được thành lập với sự khuyến khích của Đức cha Toma Nguyễn Văn Trâm, Gp. Bà Rịa phụ trách Giáo Luật trong HĐGMVN, Đức cha Giuse Võ Đức Minh Gp Nha Trang. Trang Web được phát kiến và hình thành với các lý do sau: - Trong khóa Bổ Túc...

THỐNG KÊ
  • Đang truy cập5
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm4
  • Hôm nay2,691
  • Tháng hiện tại31,872
  • Tổng lượt truy cập10,860,187
Liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi