RỐI LOẠN NHÂN CÁCH TRÁNH NÉ (AVOIDANT)

Chủ nhật - 13/11/2022 09:11

Rối loạn nhân cách tránh né (avoidant personality disorder)

J.B. Lê Ngọc Dũng
1. Bệnh lý
Người rối loạn nhân cách tránh né (avoidant personality disorder) có đặc điểm chung: Bị ức chế có tính xã hội, cảm xúc về sự yếu kém, và quá mẫn cảm với đánh giá tiêu cực.
Rối loạn bắt đầu sớm ở tuổi trưởng thành; được chẩn đoán khi hội đủ bốn (hoặc nhiều hơn) trong các điểm sau:[1]
1) Tránh né tiếp xúc nếu cảm thấy có thể bị chê trách
Họ rất ngại làm những công việc có tiếp xúc với người khác mà họ thấy là có thể bị chỉ trích, chê trách, hay bị từ chối.
2) Không sẵn lòng tham gia với mọi người trừ khi chắc chắn họ thích mình  
Họ tránh né tham gia ngay cả vào công việc có thể làm thăng tiến họ nếu họ cảm thấy sẽ bị đồng nghiệp từ chối hay phê bình họ. Họ cũng tránh kết bạn mới, tham gia vào một nhóm, trừ khi chắc chắn mình được thích, không bị phê bình.
3) Kiềm chế trong các mối quan hệ thân mật vì sợ bị xấu hổ hoặc chế giễu
Họ cảm thấy khó nói về bản thân, và giữ lại những cảm xúc thân mật vì sợ bị phơi bày, chế nhạo, hay xấu hổ. 
4) Bận tâm với bị chỉ trích hoặc từ chối trong các tình huống xã hội 
Họ có thể cảm thấy vô cùng đau khổ, bất an, khi không được chấp thuận hoặc bị phê phán.
5) Bị ức chế trong các tình huống giao tiếp mới vì cảm giác yếu kém  
Họ có xu hướng nhút nhát, vì sợ rằng bất kỳ sự chú ý nào cũng sẽ làm mình mất phẩm giá hay từ chối mình. Họ e ngại rằng bất kể họ nói gì, những người khác sẽ coi đó là "sai", và vì vậy họ có thể không nói gì cả. Họ phản ứng mạnh mẽ với những tín hiệu tinh tế mà gợi ý nhạo báng hay chế nhạo.
6) Xem bản thân là người thấp kém về hiểu biết, không hấp dẫn hoặc kém hơn người khác 
 Họ hoài nghi về khả năng xã hội và sự hấp dẫn của mình, nên sợ thiết lập liên quan hay hành động với người khác hay người lạ. 
7) Ít khi chấp nhận rủi ro để tham gia vào bất kỳ hoạt động mới nào vì thấy chúng có thể gây họ lúng túng hay xấu hổ
Họ có xu hướng phóng đại những nguy cơ tiềm ẩn. Ví dụ, một người mắc chứng rối loạn này có thể hủy một cuộc phỏng vấn xin việc do sợ bị xấu hổ vì không mặc quần áo phù hợp.


2. Hỗ trợ chẩn đoán[2]
- Cá nhân có rối loạn nhân cách tránh né thường thận trọng đối với lời khen ngợi của những người mà họ tiếp xúc.
- Sự lo sợ e dè của họ có thể làm cho người khác chế nhạo họ là nhút nhát. Điều này lại làm họ thêm nghi ngờ về chính khả năng bản thân mình.
- Họ có thể trở nên tương đối cô lập và thường không có một mạng lưới hỗ trợ xã hội lớn có thể giúp họ vượt qua khủng hoảng.
- Họ khao khát tình cảm và sự được chấp nhận và họ có thể có những tưởng tượng về những quan hệ lý tưởng với những người khác.
- Sự tránh né của họ có thể ảnh hưởng xấu đến nghề nghiệp.
- Cá nhân tìm mọi cách tránh các loại tình huống xã hội quan trọng mặc dù những tình huống này là nhu cầu cơ bản của công việc hoặc lợi ích cho việc thăng tiến bản thân.
- Các rối loạn nhân cách khác cũng thường được chẩn đoán bị rối loạn nhân cách tránh né, bao gồm: trầm cảm (depressive), lưỡng cực (bipolar), lo lắng (anxiety) và đặc biệt lo lắng xã hội (social anxiety, social phobia)
 - Rối loạn nhân cách tránh né cũng có thể được chẩn đoán là rối loạn nhân cách lệ thuộc (dependent), bởi vì những người mắc chứng rối loạn nhân cách tránh né trở nên rất gắn bó và lệ thuộc vào một vài người khác mà họ là bạn bè.
- Có xu hướng chẩn đoán nó với rối loạn nhân cách ranh giới (borderline) và với nhóm A như rối loạn nhân cách paranoid, schizoid, hoặc schizotypal.
Tỷ lệ
Có tỷ lệ khoảng 2,4% cho rối loạn nhân cách tránh né.[3]
Sự tiến triển[4]
Các hành vi tránh né thường bắt đầu từ thời thơ ấu với sự nhút nhát, cô lập, và sợ người lạ và những tình huống mới. Những sự nhút nhát này sẽ dần dần tiêu tan khi chúng lớn lên. Tuy nhiên người bị xáo trộn nhân cách tránh né sẽ phát triển sự nhút nhát trong thời thiếu niên và đầu tuổi trưởng thành. Có một số trường hợp ở người trưởng thành hay lớn tuổi, rối loạn nhân cách tránh né có xu hướng trở nên ít rõ ràng hơn.


3. Vụ án về rối loạn nhân cách tránh né (avoidant)
Vụ án được xử tại Tòa Án Tổng Giáo phận Hartford (1977), Hoa Kỳ. Tòa đã xác nhận hôn nhân vô hiệu do bị đơn, anh Stacey Grive, bị rối loạn nhân cách tránh né.[5]
Cô Sandra Drossel và anh Stacey Grive, cả hai đều theo đạo Công Giáo, đã kết hôn ở bang Connecticut trong Tổng giáo phận Hartford vào ngày 12 tháng 6 năm 1968, lúc Sandra hai mươi tuổi và Stacey hai mươi bốn tuổi .
Đôi bạn sống với nhau khoảng sáu năm nhưng Stacey chưa bao giờ thực sự dính líu đến cuộc hôn nhân và từ đầu đến cuối, vô trách nhiệm. Họ không có con. Hai người cuối cùng đã ly thân năm 1974 và một vụ ly dị được chấp thuận năm 1976.
Năm 1977, Sandra đã đệ đơn xin công bố hôn nhân vô hiệu.
Các chứng cớ trong vụ án này được xác lập bằng lời khai của cả nguyên đơn, Sandra Drossel và bị đơn, Stacey Grive, cộng với năm nhân chứng, được đúc kết như sau:
- Stacey được cha mẹ bảo vệ quá mức và ghen tị với em gái của mình. Anh thiếu động lực và được biết đến ở trường trung học là lười biếng, và là một học sinh nghèo. Stacey không bao giờ có động lực để nắm lấy bất kỳ cơ hội nào và im lặng, rút lui và không thoải mái với các sinh hoạt nhóm. Anh ta học trường dự bị quân sự và ăn mặc quá nghiêm túc và sạch sẽ vì anh ta ghét sự bẩn thỉu và nhếch nhác. Trước khi gặp Sandra, anh chưa từng hẹn hò với ai vì anh sống nội tâm và không bao giờ giữ bất kỳ công việc nào.
- Cặp đôi gặp nhau tại một bữa tiệc khi cô Sandra là học sinh năm hai trung học và anh Stacey đang học đại học. Họ hẹn hò khá thường xuyên với một cuộc chia tay ngắn sau khi Stacey cầu hôn vào năm 1966 và Sandra từ chối lời cầu hôn đó. Cô từ chối vì cô đã nhận thấy rằng Stacey không thích ở trong nhóm và muốn dành tất cả các cuộc hẹn hò của họ một mình.
- Sau một đám cưới nhỏ và không có tuần trăng mật, cặp đôi đã ổn định. Sandra được yêu cầu đảm nhận hầu hết các trách nhiệm của hôn nhân. Trong suốt sáu năm bên nhau, Sandra là trụ cột duy nhất của gia đình. Stacey kém trong công việc và hiếm khi làm việc hơn sáu tháng một năm. Khi nghỉ việc, anh tiếp tục việc học. Cô Sandra đã trả tiền cho các khóa học khác nhau ngay cả sau khi anh ta nhận được bằng cử nhân vào năm 1970. Anh ta học một khóa như một sinh viên bán thời gian hoặc đăng ký vào một khóa học nhưng sau đó bỏ nó mà không có lý do. Stacey không bao giờ làm bất cứ điều gì xung quanh nhà.
- Anh ta không muốn giao tiếp. Không có tranh cải nhau trong vài năm đầu hôn nhân vì Stacey rất im lặng và rút lui.
- Đến giữa năm 1971, không có quan hệ tình dục vì Stacey không hứng thú. Anh ta nói với Sandra rằng cô là một người bạn cùng giường nghèo, không hấp dẫn và không đủ tốt cho anh ta, nên anh ta đã rút lui. Tuy nhiên, trước đó, Stacey đã bắt đầu thức đêm và không chung thủy với một người phụ nữ lớn hơn mình mười một tuổi. Vào năm cuối của cuộc hôn nhân, Stacey gọi Sandra đến để mô tả mối quan hệ tình dục của anh ta với người phụ nữ lớn tuổi đó và nói với cô rằng cô ta xấu xí, ngu ngốc và không có gì. Năm 1973, anh đưa người phụ nữ và con trai về nhà ăn tối.
- Stacey bắt đầu uống nhiều sau năm 1970.
- Vào tháng 5 năm 1974, Sandra quyết định rằng cuộc hôn nhân là không thể chấp nhận được và cô rời khỏi Stacey.
Đưa ra tất cả các bằng chứng, bao gồm các báo cáo từ hai chuyên viên tâm lý, tòa án giáo phận đã xác nhận rằng Stacey Grive, vì bệnh tâm lý nghiêm trọng, bị tước đoạt năng lực cho các mối quan hệ giữa các cá nhân cần thiết để duy trì quan hệ đối tác hôn nhân.
 
[1] x. DSM V, 672.
[2] x. DSM V, 673-674.
[3] x. DSM V, 674.
[4] x. Ibidem.
[5] x. L.G. WRENN, Decisions, Washington DC 1983, 81-84.

Tác giả: JB Dũng Lm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

GIAOLUATCONGGIAO.COM

GIỚI THIỆU TRANG GIÁO LUẬT CÔNG GIÁO

Con xin giới thiệu trang Web ;http://giaoluatconggiao.com được thành lập với sự khuyến khích của Đức cha Toma Nguyễn Văn Trâm, Gp. Bà Rịa phụ trách Giáo Luật trong HĐGMVN, Đức cha Giuse Võ Đức Minh Gp Nha Trang. Trang Web được phát kiến và hình thành với các lý do sau: - Trong khóa Bổ Túc...

THỐNG KÊ
  • Đang truy cập29
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm28
  • Hôm nay4,893
  • Tháng hiện tại133,995
  • Tổng lượt truy cập9,775,944
Liên kết web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Gửi phản hồi